1. Luật Viên chức
Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua Luật Viên chức 2025 Luật số 129/2025/QH15.
Những điểm mới Luật Viên chức 2025 có hiệu lực thi hành từ 1/7/2026 cụ thể ra sao?
(1) Thay đổi về khái niệm viên chức, phạm vi hoạt động và nguồn thu nhập
- Theo Điều 2 Luật Viên chức 2010, viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập.
- Điều 1 Luật Viên chức 2025 quy định:
Viên chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập và từ các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, Luật Viên chức 2025 bổ sung rõ nội dung "Hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập và từ các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật".
- Quy định mới đã mở rộng cơ sở pháp lý về thu nhập của viên chức, tạo tiền đề cho việc thực hiện cơ chế trả lương theo hiệu quả công việc, thu nhập tăng thêm và gắn với mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, nội dung mà Luật Viên chức 2010 chưa quy định cụ thể.
(2) Quản lý viên chức theo vị trí việc làm
- Theo đó, Chính phủ đã chỉnh lý một số nội dung liên quan để chuyển đổi phương thức quản lý viên chức theo vị trí việc làm, lấy vị trí việc làm là căn cứ chính để thực hiện tuyển dụng, bố trí, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức.
- Đồng thời, chỉnh lý quy định về nghĩa vụ, quyền của viên chức trong hoạt động nghề nghiệp ở bên ngoài đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm chặt chẽ.
- Viên chức có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ được giao tại đơn vị sự nghiệp công lập, tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý ngành, lĩnh vực và không xung đột lợi ích theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng.
(3) Nghĩa vụ của viên chức và những việc không được làm
- Tại Điều 16 và Điều 19 Luật Viên chức 2010 quy định nghĩa vụ chung và những việc viên chức không được làm, tập trung vào chấp hành pháp luật, đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật công vụ.
- Luật Viên chức 2025 đã sửa đổi, bổ sung đáng kể nhóm quy định này.
Cụ thể, khoản 1 Điều 7 Luật Viên chức 2025: Nghĩa vụ chung của viên chức
1. Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia, dân tộc…
- Như vậy, Luật mới đã bổ sung nghĩa vụ trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam…
- Đồng thời Điều 8 bổ sung nghĩa vụ ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong thực hiện nhiệm vụ.
- Điều 10 Luật Viên chức 2025 đã mở rộng các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó bổ sung quy định không được đăng tải, phát tán, phát ngôn thông tin sai lệch làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của đất nước, địa phương và đơn vị nơi công tác.
(4) Mở rộng quyền hoạt động nghề nghiệp và tham gia kinh doanh của viên chức
So với Luật Viên chức 2010, Luật Viên chức 2025 có sự thay đổi lớn về quyền của viên chức trong hoạt động nghề nghiệp và kinh doanh.
Theo Điều 14 Luật Viên chức 2010, viên chức chủ yếu được phép góp vốn nhưng không được tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp.
Trong khi đó, khoản 1, khoản 3 Điều 13 Luật Viên chức 2025:
Quyền của viên chức về thực hiện hoạt động nghề nghiệp và hoạt động kinh doanh
1. Được ký hợp đồng lao động hoặc hợp đồng dịch vụ với cơ quan, tổ chức, đơn vị khác nếu pháp luật về ngành, lĩnh vực không cấm, bảo đảm không xung đột lợi ích theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, không trái với thỏa thuận tại hợp đồng làm việc và không vi phạm đạo đức nghề nghiệp.
….
3. Được góp vốn, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã, bệnh viện, cơ sở giáo dục, tổ chức nghiên cứu khoa học ngoài công lập, trừ trường hợp pháp luật về phòng, chống tham nhũng, pháp luật về doanh nghiệp hoặc pháp luật về ngành, lĩnh vực có quy định khác.
- Như vậy, Luật Viên chức 2025 chính thức cho phép viên chức được ký hợp đồng lao động, hợp đồng dịch vụ với cơ quan, tổ chức khác; được hành nghề với tư cách cá nhân; được góp vốn và tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở giáo dục, cơ sở y tế ngoài công lập, trừ trường hợp pháp luật có quy định cấm.
- Việc mở rộng quyền này đi kèm với yêu cầu không xung đột lợi ích và tuân thủ pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tạo sự khác biệt rõ rệt so với luật hiện hành.
- Từ 01/10/2025, theo Điều 58 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025 thì viên chức, viên chức quản lý làm việc tại tổ chức khoa học và công nghệ công lập được tham gia góp vốn, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, làm việc tại doanh nghiệp do tổ chức thành lập hoặc tham gia thành lập để thương mại hóa kết quả nghiên cứu do tổ chức đó tạo ra khi được sự đồng ý của người đứng đầu tổ chức.
- Trường hợp viên chức quản lý là người đứng đầu tổ chức khoa học và công nghệ công lập thì phải được sự đồng ý của cấp trên quản lý trực tiếp.
(5) Quy định mới về phương thức tuyển dụng viên chức
- Điều 20 Luật Viên chức 2010 quy định tuyển dụng viên chức chủ yếu thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển.
- Tại Điều 17 Luật Viên chức 2025 đã bổ sung hình thức tiếp nhận vào làm viên chức không qua thi tuyển đối với một số đối tượng như chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, năng khiếu đặc biệt hoặc người có kinh nghiệm phù hợp với vị trí việc làm. Cụ thể:
Phương thức tuyển dụng viên chức
1. Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện thông qua hình thức:
a) Thi tuyển;
b) Xét tuyển đối với từng nhóm đối tượng theo quy định của Chính phủ.
Ngoài hình thức tuyển dụng theo quy định trên, các đối tượng sau đây nếu đáp ứng ngay yêu cầu của vị trí việc làm thì thực hiện theo hình thức tiếp nhận vào làm viên chức:
- Chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, năng khiếu đặc biệt, người có kinh nghiệm phù hợp;
- Người đang ký hợp đồng làm công việc tại đơn vị sự nghiệp công lập;
- Các đối tượng khác theo quy định của pháp luật về ngành, lĩnh vực.
(6) Phân định rõ các loại hợp đồng trong đơn vị sự nghiệp công lập
- Luật Viên chức 2010 chủ yếu điều chỉnh quan hệ hợp đồng làm việc giữa viên chức và đơn vị sự nghiệp công lập.
- Các Điều 20, Điều 21 Luật Viên chức 2025 đã phân định rõ ba loại quan hệ hợp đồng, bao gồm hợp đồng làm việc đối với viên chức, hợp đồng lao động và hợp đồng dịch vụ.
Cụ thể:
- Hợp đồng làm việc là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa viên chức hoặc người được tuyển dụng vào làm viên chức với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc, quyền, nghĩa vụ và các nội dung khác có liên quan.
- Căn cứ tính chất, yêu cầu nhiệm vụ, nguồn tài chính và nhu cầu về nguồn nhân lực của đơn vị sự nghiệp công lập, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định theo thẩm quyền hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền trước khi ký kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng dịch vụ để thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Ký hợp đồng đối với chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, luật sư giỏi, doanh nhân tiêu biểu, xuất sắc hoặc người có trình độ chuyên môn cao trong các ngành, lĩnh vực chiến lược, trọng điểm để thực hiện công việc của vị trí việc làm quản lý, điều hành, phát triển đơn vị sự nghiệp công lập hoặc thực hiện công việc của vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ;
- Ký hợp đồng để thực hiện công việc của vị trí việc làm hỗ trợ.
(7) Lần đầu tiên đưa vào tiêu chí về năng lực đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm
Luật Viên chức 2025 quy định về nội dung đánh giá viên chức như sau:
- Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, đạo đức nghề nghiệp; ý thức kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện nhiệm vụ; việc chấp hành quy định của pháp luật về viên chức và quy định của cơ quan, tổ chức, đơn vị;
- Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu của vị trí việc làm; khả năng đáp ứng yêu cầu thực thi nhiệm vụ được giao thường xuyên, đột xuất; tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ; thái độ phục vụ người dân, doanh nghiệp đối với các vị trí việc làm tiếp xúc trực tiếp với người dân, doanh nghiệp; khả năng phối hợp với đồng nghiệp;
- Năng lực đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong thực hiện nhiệm vụ;
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ thông qua số lượng, chất lượng và tiến độ của sản phẩm theo vị trí việc làm;
- Nội dung khác theo yêu cầu của vị trí việc làm.
- Ngoài các nội dung nêu trên, viên chức quản lý còn được đánh giá theo kết quả hoạt động của đơn vị hoặc lĩnh vực được giao lãnh đạo, quản lý, phụ trách; khả năng tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ; năng lực tập hợp, đoàn kết viên chức, người lao động thuộc thẩm quyền quản lý.
- Trước đây tại Luật Viên chức 2010, Luật Viên chức sửa đổi 2019 chưa quy định tiêu chí này
- Kết quả đánh giá tại Luật Viên chức 2025 được sử dụng làm căn cứ trực tiếp cho việc trả lương, tiền thưởng, bố trí, sử dụng và xử lý viên chức.
- Theo quy định cũ tại Nghị định 90/2020/NĐ-CP: kết quả đánh giá xếp loại chất lượng cán bộ là căn cứ để bố trí, sử dụng đào tạo, bồi dưỡng, nâng ngạch hoặc thăng hạng chức danh nghề nghiệp, quy hoạch, bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, khen thưởng, kỷ luật, đánh giá và xếp loại chất lượng đảng viên và thực hiện các chính sách khác đối với cán bộ.
(8) Bố trí vào VTVL thấp hơn/cho thôi việc nếu viên chức không hoàn thành nhiệm vụ
- Luật Viên chức 2010 chưa quy định rõ mối liên hệ trực tiếp giữa kết quả đánh giá và việc cho thôi việc.
- Theo Luật Viên chức 2025 cụ thể khoản 4 Điều 22 và Điều 28 rằng viên chức không hoàn thành nhiệm vụ hoặc không đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm có thể bị bố trí vào vị trí việc làm ở trình độ thấp hơn hoặc cho thôi việc.
Đây là điểm mới quan trọng, nhằm nâng cao trách nhiệm cá nhân và khắc phục tình trạng bình quân trong quản lý viên chức.
(9) Điều chỉnh về kỷ luật viên chức và thời hiệu xử lý kỷ luật
So với Luật Viên chức 2010, Luật Viên chức sửa đổi 2019 thì Luật Viên chức 2025 đã siết chặt quy định về kỷ luật.
- Theo Điều 36 Luật Viên chức 2025 đã kéo dài thời hiệu xử lý kỷ luật, theo đó thời hiệu đối với hành vi bị khiển trách tăng từ 02 năm lên 05 năm, các hành vi vi phạm khác tăng từ 05 năm lên 10 năm.
- Các trường hợp không áp dụng thời hiệu tiếp tục được giữ nguyên. Thời hạn xử lý kỷ luật vẫn tối đa 90 ngày, trường hợp phức tạp không quá 150 ngày.
Đáng chú ý, thời gian điều tra, truy tố, xét xử hình sự không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật, thay vì không tính vào thời hạn xử lý kỷ luật như trước.
(10) Có Điều luật riêng quy định về xử lý viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu
Luật Viên chức 2010, sửa đổi năm 2019, chưa có quy định đầy đủ về xử lý vi phạm đối với viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu.
Luật Viên chức 2025:
- Tách riêng thành một điều luật độc lập, cụ thể là Điều 42 tập trung trực tiếp vào viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu.
- Khẳng định rõ nguyên tắc, mọi hành vi vi phạm trong thời gian công tác đều bị xử lý, không “đương nhiên miễn trách nhiệm” do đã nghỉ việc, nghỉ hưu.
- Luật hóa cụ thể các hình thức xử lý, đặc biệt là xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm - điểm mới quan trọng so với quy định cũ.
- Bỏ mốc thời gian chuyển tiếp 01/7/2020, mở rộng phạm vi áp dụng.
(11) Quản lý viên chức bằng dữ liệu số và hồ sơ điện tử
- Luật Viên chức 2010 chủ yếu quy định quản lý hồ sơ viên chức bằng hồ sơ giấy. Luật Viên chức 2025 tại Điều 42 đã chuyển mạnh sang quản lý hồ sơ điện tử.
- Theo đó, sơ viên chức bao gồm hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử, được quản lý trên hệ thống thông tin về viên chức và được cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia về viên chức. Hồ sơ viên chức phải có đầy đủ tài liệu theo quy định, bảo đảm chính xác diễn biến, quá trình công tác của viên chức.
- Viên chức có trách nhiệm bổ sung thông tin cá nhân theo quy định khi có thay đổi; cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền phê duyệt, cập nhật vào hồ sơ viên chức và đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia về viên chức.
(12) Đổi mới cơ chế đánh giá với viên chức
- Theo đó, việc đánh giá sẽ được thực hiện thường xuyên, liên tục và dựa trên các tiêu chí định lượng gắn với kết quả công việc.
- Bên cạnh đó, Luật viên chức 2025 quy định căn cứ vào kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng định kỳ hoặc hàng năm, cấp có thẩm quyền có thể bố trí việc làm ở trình độ thấp hơn hoặc cho thôi việc với trường hợp viên chức không hoàn thành nhiệm vụ hoặc không đáp ứng yêu cầu công việc.
- Luật có hiệu lực thi hành từ 1/7/2026.
2. Luật dân số
Luật Dân số năm 2025 (Luật số 113/2025/QH15) vừa được Quốc hội thông qua vào ngày 10/12/2025 và sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.
Dưới đây là 5 điểm mới nổi bật nhất mà bạn có thể tham khảo cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật:
1. Quyền tự quyết về số con và thời gian sinh con: Thay vì quy định cứng nhắc "mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ 1 đến 2 con" như trước đây, Điều 13 của Luật mới ghi nhận:
- Quyền tự quyết: Cá nhân, cặp vợ chồng được quyền quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh.
- Căn cứ quyết định: Dựa trên tình trạng sức khỏe, thu nhập và điều kiện nuôi dạy con của mỗi gia đình trên cơ sở bình đẳng.
- Mục tiêu: Nhằm duy trì mức sinh thay thế và khắc phục tình trạng già hóa dân số nhanh chóng.
2. Ưu tiên mua nhà ở xã hội cho gia đình sinh đủ 2 con: Đây là chính sách mang tính đột phá nhằm hỗ trợ các gia đình trẻ an cư:
- Các cặp vợ chồng sinh đủ 02 con đẻ trở lên sẽ được Nhà nước ưu tiên khi tiếp cận nhà ở xã hội (mua, thuê mua hoặc thuê).
- Chính sách này đặc biệt nhắm đến các thành phố lớn và các vùng có mức sinh thấp để giảm áp lực kinh tế cho các cặp đôi.
3. Tăng thời gian nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai: Luật tạo điều kiện tốt hơn cho việc chăm sóc trẻ nhỏ:
- Lao động nữ: Khi sinh con thứ hai, thời gian nghỉ thai sản được nâng lên thành 07 tháng (tăng 01 tháng so với quy định hiện hành).
- Lao động nam: Được nghỉ 10 ngày làm việc khi vợ sinh con để cùng chia sẻ trách nhiệm chăm sóc gia đình.
4. Kiểm soát nghiêm ngặt mất cân bằng giới tính: Luật siết chặt các quy định để ngăn chặn việc lựa chọn giới tính thai nhi:
- Đình chỉ hành nghề: Bác sĩ hoặc nhân viên y tế có hành vi thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi nhằm mục đích phá thai sẽ bị đình chỉ hành nghề.
- Vai trò cộng đồng: Khuyến khích đưa nội dung "không trọng nam hơn nữ" vào hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư.
5. Hỗ trợ tài chính cho các đối tượng đặc biệt: Nhà nước sẽ có các mức hỗ trợ tài chính cụ thể cho
- Phụ nữ sinh đủ 02 con trước 35 tuổi.
- Phụ nữ thuộc các dân tộc thiểu số rất ít người.
- Phụ nữ sinh con tại các địa phương có mức sinh thấp (dưới mức sinh thay thế).
- Luật có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.
3. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật phòng, chống tham nhũng
Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026. Theo đó Luật sửa đổi, bổ sung số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng có một số điểm mới quan trọng sau:
1. Quy định về tiêu chí đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng
Luật đã bổ sung quy định về tiêu chí đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng theo hướng quy định chung về các nội dung đánh giá cho phù hợp với chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành, địa phương. Trên cơ sở đó, giao Chính phủ quy định các tiêu chí đánh giá nhằm bảo đảm tính chủ động và tính chịu trách nhiệm của các Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về công tác phòng, chống tham nhũng. Theo đó, các tiêu chí đánh giá về công tác phòng, chống tham nhũng được xác định theo các nội dung như: (i) Việc xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng; (ii) Việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; (iii) Việc phát hiện tham nhũng; (iv) Việc xử lý tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng.
So với Luật sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2020 thì đã bỏ nội dung đánh giá về “số lượng, tính chất và mức độ của vụ việc, vụ án tham nhũng”, đồng thời sửa đổi, điều chỉnh các nội dung của 02 tiêu chí “Việc phát hiện và xử lý tham nhũng” và “Việc thu hồi tài sản tham nhũng” thành tiêu chí “Việc phát hiện tham nhũng” và tiêu chí “Việc xử lý tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng” để phù hợp hơn.
2. Xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về phòng, chống tham nhũng
Luật đã sửa đổi, bổ sung quy định về ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, theo đó, các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tăng cường đầu tư thiết bị, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động phòng chống tham nhũng; xây dựng hệ thông thông tin, cơ sở dữ liệu đông bộ, bảo đảm liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia và an toàn thông tin.
3. Quy định nguyên tắc về trách nhiệm giải trình
Theo đó, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm giải trình về quyết định, hành vi của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân bị tác động trực tiếp bởi quyết định, hành vi đó. Chính phủ quy định chi tiết nguyên tắc, đối tượng, nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân về thực hiện trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ.
4.Về cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập
Luật đã điều chỉnh, hoàn thiện quy định về cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập theo hướng quy định rõ hơn và xác định đầu tiên trong nhóm các chủ thể kiểm soát tài sản, thu nhập. Theo đó, Ủy ban kiểm tra cấp ủy cấp trên trực tiếp cơ sở trở lên kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập (sau đây gọi là người có nghĩa vụ kê khai) là người thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý và Đảng viên chuyên trách công tác đảng hoặc có vị trí việc làm ở các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy theo quy định của Đảng.
5.Tăng giá trị tài sản, mức thu nhập phải kê khai và kê khai bổ sung để phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay.
- Kê khai bổ sung được thực hiện khi người có nghĩa vụ kê khai có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 1.000.000.000 đồng trở lên. Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 của năm có biến động về tài sản, thu nhập. Theo quy định trước đây, người có nghĩa vụ kê khai bổ sung khi có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 300.000.000 đồng trở lên.
- Bên cạnh đó, kê khai tài sản có giá trị cũng được Luật sửa đổi theo hướng tăng giá trị tài sản phải kê khai từ 50 triệu đồng lên 150 triệu đồng cho mỗi loại tài sản. Theo đó, quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng; Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và tài sản khác mà mỗi loại tài sản có giá trị từ 150.000.000 đồng trở lên; Tài sản, tài khoản ở nước ngoài; Tổng thu nhập giữa 02 lần kê khai.
6.Các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống tham nhũng
- Theo Luật sửa đổi, bổ sung số 132/2025/QH15 thì đã sửa đổi, bổ sung hành vi bị nghiêm cấm đối với người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng theo hướng cụ thể hơn, bao gồm các hành vi: (i) Đe dọa, dùng bạo lực, gây áp lực, vu khống, cô lập, xúc phạm hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng; (ii) Xâm phạm bất hợp pháp nhà ở, chỗ ở, chiếm giữ, hủy hoại tài sản, xúc phạm nhân phẩm, danh dự hoặc có hành vi ảnh hưởng đến sức khỏe, an toàn cá nhân của người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng; (iii) Trả thù hoặc thuê, nhờ, xúi giục người khác uy hiếp tinh thần, trả thù người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng; (iv) Thực hiện không đúng quy định, phân biệt đối xử, đề ra tiêu chí, điều kiện, nhận xét, đánh giá mang tính áp đặt gây bất lợi trong công tác cán bộ, khen thưởng, kỷ luật đối với người phản ánh, tổ cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng; luân chuyển, điều động, biệt phái người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng khi đang giải quyết vụ việc; (v) Gây khó khăn, cản trở khi thực hiện chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước, giải quyết các thủ tục hành chính, các dịch vụ công theo quy định của pháp luật, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, nghề nghiệp, việc làm, lao động, học tập hoặc thực thi nhiệm vụ của người phản ánh, tổ cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng.
- Bên cạnh đó, Luật đã bổ sung một khoản mới (khoản 3a) quy định về hành vi "Ngăn chặn, hủy bỏ thông tin, tài liệu, chứng cứ về phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng; che giấu, không báo cáo, trì hoãn hoặc xử lý, xác minh đề nghị, yêu cầu được bảo vệ không đúng quy định; tiết lộ các thông tin cần được giữ bí mật trong quá trình bảo vệ; không kịp thời chi đạo, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của tổ chức, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ; không thay đổi người thực hiện nhiệm vụ bảo vệ khi có căn cứ xác định người đó thiếu trách nhiệm, không khách quan trong thực hiện nhiệm vụ.”
- Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
4. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật lý lịch tư pháp
Luật Lý lịch tư pháp sửa đổi 2025 đã tập trung sửa đổi các nội dung trọng tâm tạo khuôn khổ pháp lý đồng bộ cho quản lý lý lịch tư pháp trong giai đoạn mới. Dưới đây là Luật Lý lịch tư pháp sửa đổi 2025 và điểm mới đáng chú ý.
1. Chuyển giao nhiệm vụ quản lý lý lịch tư pháp từ Bộ Tư pháp sang Bộ Công an
- Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 quy định Bộ Tư pháp là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, trực tiếp quản lý Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia (khoản 3 Điều 9).
- Luật Lý lịch tư pháp sửa đổi 2025, số 107/2025/QH15 đã sửa đổi quy định này cụ thể như sau:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.
- Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm phối hợp với Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp.
- Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp quy định việc phối hợp trong thực hiện thủ tục tra cứu, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp và việc xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự.
- Như vậy, Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp;
- Ngoài ra, Cục Hồ sơ nghiệp vụ Bộ Công an thay thế Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia.
2. Làm rõ khái niệm “thông tin lý lịch tư pháp” và “Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp”
Luật Lý lịch tư pháp sửa đổi 2025 đã:
- Bổ sung khoản 1a Điều 2 để giải thích rõ “thông tin lý lịch tư pháp” gồm thông tin về án tích và thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã;
1a. Thông tin lý lịch tư pháp gồm thông tin lý lịch tư pháp về án tích, thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.”;
- Bổ sung khoản 4a Điều 2 quy định cụ thể về Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, bao gồm các thông tin định danh cá nhân và thông tin liên quan khác;
“4a. Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp là tập hợp thông tin lý lịch tư pháp của cá nhân và các thông tin về số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu trong trường hợp không có số định danh cá nhân; họ, chữ đệm và tên khai sinh; tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; nơi đăng ký khai sinh; quốc tịch; dân tộc; nơi cư trú; họ, chữ đệm, tên cha, mẹ, vợ, chồng của người đó.”;
Đồng thời, sửa đổi khoản 5 Điều 2 để xác định cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp gồm Cục Hồ sơ nghiệp vụ Bộ Công an và Công an cấp tỉnh.
Luật hiện hành chưa có quy định riêng giải thích khái niệm “thông tin lý lịch tư pháp” và “Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp”.
3. Xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tập trung, kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư
Theo Điều 11 Luật năm 2009, cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dựng và quản lý tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp.
Luật sửa đổi 2025 đã sửa đổi toàn diện Điều 11, theo đó:
- Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dựng tập trung, thống nhất tại Cục Hồ sơ nghiệp vụ Bộ Công an;
- Được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác;
- Bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật, an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân;
- Giao Chính phủ quy định chi tiết.
4. Bổ sung điều kiện độ tuổi khi yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp
Công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam từ đủ 16 tuổi trở lên có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp cấp Phiếu lý lịch tư pháp của mình.
Như vậy, lần đầu tiên luật xác lập ngưỡng tuổi pháp lý đối với quyền yêu cầu cấp Phiếu.
5. Cấm tuyệt đối yêu cầu Phiếu lý lịch tư pháp số 2
Luật sửa đổi quy định:
- Thông tin lý lịch tư pháp, Phiếu lý lịch tư pháp được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được yêu cầu cá nhân cung cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 quy định tại Điều 43 của Luật này.
- Như vậy, quy định mới cấm mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Phiếu LLTP số 2. Trong khi Luật 2009 chưa có quy định này. Đồng thời xác nhận Thông tin lý lịch tư pháp, Phiếu lý lịch tư pháp được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với dữ liệu cá nhân nhạy cảm.
6. Thay đổi mục đích được phép sử dụng thông tin lý lịch tư pháp
Luật sửa đổi quy định:
Cơ quan tiến hành tố tụng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp cung cấp thông tin lý lịch tư pháp để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử.
- Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp cung cấp thông tin lý lịch tư pháp để hỗ trợ công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức và hoạt động giải quyết thủ tục hành chính.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được yêu cầu cá nhân cung cấp thông tin lý lịch tư pháp hoặc Phiếu lý lịch tư pháp số 1, trừ trường hợp có quy định cần sử dụng thông tin lý lịch tư pháp để phục vụ mục đích tuyển dụng, cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề đổi với các ngành nghề, vị trí việc làm có liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe của cộng đồng hoặc để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân khi tham gia các giao dịch dân sự, thương mại liên quan trực tiếp đến các đối tượng yếu thế trong xã hội.
- Như vậy, tại quy định mới thì Lý lịch tư pháp dùng để: Quản lý cán bộ, công chức, viên chức; Giải quyết thủ tục hành chính.
- So với quy định cũ, bỏ hoàn toàn mục đích kinh doanh - doanh nghiệp - hợp tác xã. Đồng thời không còn cơ sở pháp lý để yêu cầu LLTP trong tuyển dụng lao động khu vực tư; thành lập, góp vốn, quản lý doanh nghiệp.
7. Công nhận Phiếu lý lịch tư pháp điện tử có giá trị pháp lý
- Luật năm 2009 chỉ quy định Phiếu lý lịch tư pháp dưới dạng bản giấy.
- Trong khi Luật Lý lịch tư pháp sửa đổi 2025 quy định Phiếu lý lịch tư pháp được cấp dưới dạng bản điện tử hoặc bản giấy và có giá trị pháp lý như nhau.
- Trường họp Phiếu lý lịch tư pháp bản điện tử đã được cấp theo quy định của Luật này thì thông tin lý lịch tư pháp được đồng thời hiển thị trên ứng dụng định danh quốc gia và có giá trị như Phiếu lý lịch tư pháp. Thông tin lý lịch tư pháp hiển thị trên ứng dụng định danh quốc gia được cập nhật để cá nhân sử dụng khi có nhu cầu mà không cần yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp.
- Bộ trưởng Bộ Công an quy định mẫu Phiếu lý lịch tư pháp và hình thức hiển thị thông tin lý lịch tư pháp trên ứng dụng định danh quốc gia.
8. Rút ngắn thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp
- Theo Điều 48 Luật năm 2009, thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp là không quá 10 ngày, một số trường hợp đến 15 ngày.
- Luật đã sửa đổi Điều 48, quy định:
- Thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp không quá 05 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ;
- Trường hợp cần tra cứu, xác minh thêm thì không quá 15 ngày;
9. Thống nhất sử dụng số định danh cá nhân trong lý lịch tư pháp
- Luật năm 2009 sử dụng số Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu trong nhiều quy định liên quan đến lý lịch tư pháp.
- Luật sửa đổi đã đồng loạt thay thế cụm từ “số giấy chứng minh nhân dân” bằng “số định danh cá nhân” tại nhiều điều, như Điều 16, Điều 26, Điều 37, Điều 42, Điều 43.
- Sửa đổi này nhằm bảo đảm thống nhất với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và pháp luật về Căn cước.
5. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự.
Ngày 10/ 12/ 2025, Quốc hội ban hành Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự.
Đây là đạo luật có ý nghĩa quan trọng, nhằm kịp thời hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương, đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, cư trú, căn cước, xuất nhập cảnh, giao thông đường bộ, phòng cháy chữa cháy và quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ.
Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung các quy định tại 10 luật gồm: Luật Cảnh vệ; Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; Luật Cư trú; Luật Căn cước; Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở; Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ; Luật Đường bộ; Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
1. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, không yêu cầu nộp lại giấy tờ đã có trong cơ sở dữ liệu
Một điểm mới đáng chú ý là Luật bổ sung quy định về việc khai thác, sử dụng thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành để giải quyết thủ tục hành chính. Luật bổ sung Điều 6a vào Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Theo đó, đối với giấy tờ, thông tin thuộc thành phần hồ sơ đã có trong cơ sở dữ liệu quốc gia hoặc cơ sở dữ liệu chuyên ngành mà cơ quan tiếp nhận, giải quyết thủ tục có thể khai thác, sử dụng được thì không yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân phải cung cấp lại. Trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, Luật đã sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 40 theo hướng: nếu giấy tờ, thông tin đã có trong các cơ sở dữ liệu và cơ quan giải quyết thủ tục có thể khai thác được thì không yêu cầu công dân phải cung cấp lại. Quy định này thể hiện rõ tinh thần cải cách hành chính, giảm giấy tờ, giảm thời gian đi lại, tạo thuận lợi hơn cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục hành chính.
2. Bổ sung chính sách thị thực ưu đãi đối với nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao
Luật bổ sung nhóm thị thực mới nhằm thu hút nhân lực chất lượng cao, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số. Tại khoản 2 Điều 2, Luật bổ sung khoản 22 và khoản 23 vào Điều 8 của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, gồm: (1) Thị thực ký hiệu UĐ1: cấp cho người nước ngoài là nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao và các trường hợp được ưu đãi theo quy định; (2) Thị thực ký hiệu UĐ2: cấp cho vợ, chồng, con dưới 18 tuổi của người nước ngoài được cấp thị thực UĐ1; (3) quy định thị thực ký hiệu LS, ĐT1, ĐT2, UĐ1, UĐ2 có thời hạn không quá 05 năm (khoản 3 Điều 2 sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 9); quy định thẻ tạm trú ký hiệu ĐT1, UĐ1, UĐ2 có thời hạn không quá 10 năm (Khoản 10 Điều 2 sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 38). Đây là điểm mới có ý nghĩa trong thu hút chuyên gia, nhân lực công nghệ cao, đồng thời vẫn đặt trong yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
3. Tạo thuận lợi hơn trong cấp hộ chiếu, sử dụng căn cước điện tử
Đối với công dân Việt Nam, Luật có nhiều sửa đổi liên quan đến thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, cụ thể: (1) người đề nghị cấp, gia hạn hộ chiếu có thể xuất trình thẻ căn cước công dân, thẻ căn cước hoặc căn cước điện tử tại cơ quan có thẩm quyền; (2) cho phép người đề nghị cấp hộ chiếu xuất trình thẻ căn cước công dân, thẻ căn cước, căn cước điện tử hoặc hộ chiếu còn giá trị sử dụng; (3) quy định hộ chiếu phổ thông cấp theo thủ tục rút gọn có thời hạn không quá 12 tháng, không được gia hạn và chỉ có giá trị sử dụng 01 lần khi xuất cảnh Việt Nam hoặc nhập cảnh Việt Nam. Các quy định này góp phần tạo thuận lợi cho công dân, phù hợp với xu hướng sử dụng giấy tờ điện tử, dữ liệu điện tử trong giải quyết thủ tục hành chính.
4. Nhiều điểm mới về cư trú, thông báo lưu trú và khai báo tạm vắng
- Luật sửa đổi nhiều nội dung của Luật Cư trú nhằm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương và việc ứng dụng dữ liệu dân cư.
- Tại khoản 1 Điều 4, Luật sửa đổi, bổ sung Điều 2 của Luật Cư trú, xác định cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc đơn vị hành chính cấp xã; cơ quan đăng ký cư trú là Công an xã, phường, đặc khu.
- Một điểm mới đáng chú ý là tại khoản 4 Điều 4, Luật sửa đổi, bổ sung Điều 20, theo đó người dưới 6 tuổi được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp không thuộc quyền sở hữu của mình khi về ở với cha, mẹ, người giám hộ mà không cần sự đồng ý của chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đó.
- Về thông báo lưu trú, khoản 9 Điều 4 sửa đổi, bổ sung Điều 30. Theo đó, khi có người lưu trú qua đêm, thành viên hộ gia đình, người đại diện cơ sở chữa bệnh, cơ sở lưu trú du lịch, chủ sở hữu hoặc người được giao quản lý phương tiện và các cơ sở lưu trú khác có trách nhiệm thông báo lưu trú với cơ quan đăng ký cư trú. Việc thông báo lưu trú được thực hiện trước 23 giờ của ngày bắt đầu lưu trú; trường hợp người đến lưu trú sau 23 giờ thì thông báo trước 08 giờ ngày hôm sau.
- Về khai báo tạm vắng, khoản 10 Điều 4 sửa đổi, bổ sung Điều 31, quy định công dân khai báo tạm vắng qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng định danh quốc gia. Quy định này giúp người dân thực hiện thủ tục thuận tiện hơn, giảm việc phải trực tiếp đến cơ quan công an trong nhiều trường hợp.
5. Nâng cao giá trị sử dụng của căn cước điện tử và ứng dụng định danh quốc gia
Luật sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung quan trọng trong Luật Căn cước. Đặc biệt tại khoản 1 Điều 5, Luật sửa đổi, bổ sung khoản 18 Điều 3, làm rõ ứng dụng định danh quốc gia VNeID là ứng dụng trên thiết bị số phục vụ định danh điện tử, xác thực điện tử trong giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công và các giao dịch khác trên môi trường điện tử.
6. Hoàn thiện quy định về lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở
Luật cũng sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở. Tại Điều 6, Luật sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến tổ chức, hoạt động của lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, trong đó có việc điều chỉnh thuật ngữ, thẩm quyền và trách nhiệm báo cáo cho phù hợp với mô hình tổ chức đơn vị hành chính mới, đặc biệt là tại đặc khu không tổ chức Hội đồng nhân dân. Quy định này góp phần bảo đảm lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở hoạt động thống nhất, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự ngay từ địa bàn dân cư.
7. Bổ sung quy định bảo đảm an toàn cho trẻ em trên xe ô tô
Một điểm mới được nhiều người dân quan tâm là quy định về bảo đảm an toàn cho trẻ em khi đi ô tô. Tại khoản 3 Điều 7, Luật sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 10 của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Theo đó, khi chở trẻ em dưới 10 tuổi và chiều cao dưới 1,35 mét trên xe ô tô, người lái xe không được cho trẻ em ngồi cùng hàng ghế với người lái xe, trừ xe ô tô chỉ có một hàng ghế; đồng thời phải sử dụng, hướng dẫn sử dụng thiết bị an toàn phù hợp cho trẻ em, trừ xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách. Quy định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 theo quy định tại điểm a khoản 20 Điều 7 và Điều 11 của Luật số 118/2025/QH15. Đây là quy định có ý nghĩa nhân văn, góp phần bảo vệ trẻ em, hạn chế nguy cơ thương tích khi tham gia giao thông bằng ô tô.
8. Tăng cường quản lý dữ liệu giám sát hành trình, hình ảnh người lái xe và khoang chở khách
- Luật sửa đổi, bổ sung nhiều quy định liên quan đến dữ liệu giao thông, thiết bị giám sát hành trình và thiết bị ghi nhận hình ảnh.
- Tại khoản 2 Điều 7, Luật sửa đổi, bổ sung Điều 9 của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, nghiêm cấm hành vi làm gián đoạn hoạt động hoặc làm sai lệch dữ liệu của thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách. Đồng thời, nghiêm cấm việc sử dụng dữ liệu từ các thiết bị này để xâm phạm nhân phẩm, danh dự, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
- Tại khoản 6 Điều 7, Luật sửa đổi, bổ sung Điều 35, quy định một số loại xe phải lắp thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách theo từng nhóm phương tiện.
- Tại khoản 17 Điều 7, Luật sửa đổi, bổ sung Điều 71, quy định về hệ thống giám sát bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn giao thông đường bộ; hệ thống quản lý dữ liệu thiết bị giám sát hành trình, thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe, khoang chở khách; hệ thống thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ kiểm tra tải trọng xe cơ giới.
- Đồng thời, điểm b khoản 20 Điều 7 quy định lộ trình thực hiện: việc lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe đối với một số loại xe có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2028; việc lắp thiết bị ghi nhận hình ảnh khoang chở khách đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách từ 08 chỗ trở lên có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2029 và thực hiện theo lộ trình do Chính phủ quy định.
9. Phân định rõ hơn trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực giao thông đường bộ
- Luật có nhiều sửa đổi nhằm phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan trong lĩnh vực trật tự, an toàn giao thông đường bộ nhằm quản lý thống nhất, rõ trách nhiệm, tránh chồng chéo trong tổ chức thực hiện.
- Tại khoản 19 Điều 7, Luật sửa đổi, bổ sung Điều 87 của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Theo đó, Bộ Công an là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, sát hạch, cấp giấy phép lái xe; Bộ Xây dựng thực hiện quản lý nhà nước về đào tạo lái xe, chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng, phụ tùng xe cơ giới và các nhiệm vụ quản lý khác theo quy định.
- Tại khoản 11, khoản 12, khoản 13 và khoản 14 Điều 7, Luật cũng sửa đổi các quy định liên quan đến giấy phép lái xe, đào tạo lái xe, sát hạch lái xe, cấp đổi, cấp lại và thu hồi giấy phép lái xe.
10. Sửa đổi quy định về quản lý đường bộ phù hợp với mô hình chính quyền địa phương
Tại Điều 8, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đường bộ. Trong đó, khoản 1 Điều 8 sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 2, xác định cơ quan quản lý đường bộ gồm cơ quan thuộc Bộ Xây dựng, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp xã. Đáng chú ý, khoản 3 Điều 8 sửa đổi, bổ sung Điều 8 của Luật Đường bộ về phân loại đường bộ theo cấp quản lý, gồm: quốc lộ, đường tỉnh, đường xã, đường thôn, đường đô thị, đường chuyên dùng. Quy định này góp phần làm rõ trách nhiệm quản lý, bảo trì, khai thác kết cấu hạ tầng đường bộ sau khi tổ chức lại đơn vị hành chính.
11. Sửa đổi quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
Tại Điều 9, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ với một số điểm đáng chú ý gồm: sửa đổi thẩm quyền, trách nhiệm trong trang bị, tiếp nhận, phân loại, tiêu hủy, bàn giao vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; bổ sung việc sử dụng ứng dụng định danh quốc gia trong một số thủ tục; điều chỉnh một số quy định về hồ sơ, điều kiện kinh doanh, dịch vụ nổ mìn, bảo quản vật liệu nổ công nghiệp.
12. Sửa đổi quy định về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ
- Tại Điều 10, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Trong đó, khoản 1 Điều 10 sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 7, quy định Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ tại địa phương. Quy định này nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương trong công tác phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; đồng thời yêu cầu mỗi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân nâng cao ý thức phòng ngừa, không để xảy ra cháy, nổ, sự cố đáng tiếc.
- Luật số 118/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến an ninh, trật tự là văn bản pháp luật quan trọng, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới. Những điểm mới của Luật thể hiện rõ chủ trương đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, khai thác hiệu quả dữ liệu quốc gia, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
- Các quy định mới về cư trú, căn cước, xuất nhập cảnh, trật tự an toàn giao thông đường bộ, phòng cháy chữa cháy, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở đều có ý nghĩa thiết thực, gắn trực tiếp với đời sống của Nhân dân. Việc nắm rõ và thực hiện đúng các quy định này không chỉ giúp người dân thuận lợi hơn trong giải quyết thủ tục hành chính, mà còn góp phần xây dựng môi trường sống an toàn, văn minh, kỷ cương.
- Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
6. Luật thi hành án dân sự
Ngày 05/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Thi hành án dân sự (THADS) số 106/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Luật gồm 05 Chương, 116 điều. Những điểm mới của Luật tập trung vào 9 nhóm vấn đề lớn:
- Luật THADS năm 2025 đã thể chế hóa Kết luận số 162-KL/TW ngày 06/6/2025 của Bộ Chính trị về mô hình cơ quan THADS một cấp ở địa phương nhằm tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống THADS, bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả
- Luật quy định hệ thống THADS được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương, quy định mô hình cơ quan THADS một cấp, trong đó có các Phòng THADS khu vực. Đồng thời, để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động THADS của các Phòng THADS khu vực, Luật đã quy định Trưởng phòng Phòng THADS khu vực là Chấp hành viên trưởng.
- Chấp hành viên trưởng là chức danh tư pháp, thực hiện một số nhiệm vụ quyền hạn theo ủy quyền của Thủ trưởng của cơ quan THADS; hướng dẫn, chỉ đạo chuyên môn, nghiệp vụ tổ chức thi hành án đối với Chấp hành viên tại Phòng THADS khu vực. Việc bổ sung chức danh Chấp hành viên trưởng cũng nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong công tác phối hợp với các cơ quan tố tụng và cơ quan liên quan trên địa bàn.
1. Quy định về việc gửi lại yêu cầu thi hành án
- Đây là một trong những giải pháp nhằm giảm án tồn, xử lý những vụ việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành kéo dài nhiều năm mà Nhà nước vẫn phải đảm bảo nhân lực, vật lực để theo dõi, xác minh định kỳ, gây lãng phí ngân sách.
- Quy định gửi lại yêu cầu thi hành án vẫn bảo đảm thực hiện đầy đủ trách nhiệm của cơ quan THADS, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, đồng thời, tạo điều kiện cho người dân có quyền yêu cầu Văn phòng THADS tổ chức thi hành án; bất kỳ giai đoạn nào sau khi được gửi lại tài liệu yêu cầu thi hành án, nếu phát hiện người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì người yêu cầu đều có quyền yêu cầu thi hành án trở lại, thời gian gửi lại yêu cầu thi hành án không bị tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.
2. Quy định về quản lý kho vật chứng
- Luật đã sửa đổi quy định về trách nhiệm bảo quản vật chứng theo hướng: vật chứng tiếp tục được lưu giữ tại kho của cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cho đến khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Quy định này nhằm hạn chế việc phải di chuyển vật chứng qua các kho khác nhau, gây tốn kém chi phí, nhân lực và nguy cơ mất mát, hư hỏng vật chứng; đồng thời, giúp bảo đảm an toàn vật chứng, nhất là đối với các loại vật chứng đặc thù như ma túy, vũ khí...; phù hợp với thực tế cơ quan THADS không có lực lượng chuyên nghiệp để bảo vệ vật chứng và Nhà nước không phải đầu tư ngân sách cho cả hai hệ thống kho như hiện nay.
3. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số mạnh mẽ trong hoạt động thi hành án dân sự
- Thể chế hóa Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, Luật THADS (sửa đổi) đã bổ sung nhiều quy định ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS (như: Điều 5 ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS, Điều 9 về điều kiện bảo đảm cho công tác THADS, Điều 35 về thông báo qua phương tiện điện tử, Điều 37 về ứng dụng công nghệ thông tin trong xác minh, Điều 54 về thanh toán qua chuyển khoản...). Đây sẽ là những quy định có tính bước ngoặt, tạo thuận lợi cho cơ quan THADS, Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án. Để tạo cơ sở pháp lý kịp thời triển khai trên thực tế, một số quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Luật sẽ có hiệu lực sớm.
- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp của chính quyền địa phương; trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động thi hành án dân sự theo mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.
- Tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của chính quyền địa phương trong công tác THADS, Luật quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác THADS trên địa bàn, đặc biệt là UBND cấp xã, cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp, phù hợp với mô hình sau sắp xếp.
4. Quy định về thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân với những vụ việc thi hành án đã kết thúc
Nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của công tác THADS, bảo đảm tính ổn định của các quan hệ xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, đồng thời, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong THADS, Luật đã bổ sung quy định về thời hạn kháng nghị của VKSND đối với các vụ việc thi hành án đã kết thúc là 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát được thông báo về kết thúc việc thi hành án.
5. Bổ sung quy định xử lý khoản tiền đã tạm thu trong nhiều năm nhưng chưa có phương án giải quyết
Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về tránh lãng phí, tiêu cực, khơi thông các nguồn lực xã hội, Luật bổ sung quy định về cơ chế xử lý đối với khoản tiền đã tạm thu đang bị tồn đọng nhiều năm qua. Theo đó, sau 05 năm tạm thu mà không nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì khoản tiền trên sẽ được sung công, sau khi sung công, trường hợp nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thoái thu theo quy định của pháp luật để thi hành theo nội dung bản án, quyết định.
6. Đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí tổ chức thi hành án
- Thực hiện yêu cầu về "đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí" theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, từng thời hạn, thủ tục trong quy trình tổ chức thi hành án đã được rà soát kỹ lưỡng để sửa đổi theo hướng đơn giản hóa, rút ngắn thời gian, giảm chi phí nhưng vẫn phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
- Một số nội dung nổi bật như: Quy định thông báo thi hành án trên môi trường số bên cạnh các phương thức khác nhằm giải quyết khó khăn, giảm chi phí, đặc biệt là trong các vụ đại án; Quy định cơ quan THADS chủ động ra quyết định thi hành án đối với khoản bồi thường trong trường hợp cơ quan THADS đã thu được tiền ở giai đoạn tố tụng mà không cần chờ đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án; Sửa đổi quy định về thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo hướng nhanh gọn, phù hợp với tính chất phải kịp thời của loại quyết định này...
7. Tiếp tục thực hiện xã hội hóa hoạt động THADS
- Tiếp tục thực hiện chủ trương xã hội hóa một số hoạt động THADS đã được Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra, đặc biệt là Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương, Luật đã bổ sung các quy định về Thừa hành viên và Văn phòng THADS với những nội dung chính như:
- Đổi tên Thừa phát lại thành Thừa hành viên và đổi tên Văn phòng Thừa phát lại thành Văn phòng THADS để bảo đảm tính phổ thông, dễ hiểu hơn, phù hợp với phạm vi, tính chất hoạt động THADS của tổ chức này.
- Về nhiệm vụ, quyền hạn: Thừa phát lại tiếp tục được thực hiện 4 thủ tục thi hành án theo Nghị định số 08/2020/NĐ-CP. Bên cạnh đó, so với Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, Luật đã mở rộng thẩm quyền của Thừa phát lại về 4 thủ tục: Được ra quyết định thi hành án; Được đề nghị Tòa án xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án; Được yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu; Được yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp tài sản thi hành án.
- Đồng thời, Thừa phát lại được thực hiện thêm 1 thủ tục: "Thừa hành viên được đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện phong toả tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ; tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản".
- Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
7. Luật thi hành án hình sự
Điểm mới Luật Thi hành án hình sự 2025 từ 1/7/2026 chi tiết ra sao? Những điểm mới của Luật Thi hành án hình sự?
Ngày 9/6/2026, Tòa án nhân dân tối cao đã có Công văn 378/TANDTC-PC năm 2026 quán triệt điểm mới của Luật Thi hành án hình sự 2025 thuộc thẩm quyền của Tòa án. Trong đó quán triệt 08 nội dung điểm mới Luật Thi hành án hình sự 2025 từ 1/7/2026.
Cụ thể, tại nội dung Công văn 378/TANDTC-PC năm 2026 quán triệt 08 nội dung điểm mới Luật Thi hành án hình sự 2025 từ 1/7/2026 như sau:
(1) Quy định thời hạn giải quyết một số việc ngắn hơn so với Luật Thi hành án hình sự 2019
Luật Thi hành án hình sự 2025 quy định thời hạn giải quyết một số việc ngắn hơn so với quy định của Luật Thi hành án hình sự 2019 (trừ một số việc thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh), trong đó có thời hạn giải quyết một số việc thuộc thẩm quyền của Tòa án, cụ thể như sau: Điểm mới Luật Thi hành án hình sự 2025 từ 1 7
(i) Thời hạn xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù (khoản 3 Điều 32 Luật Thi hành án hình sự 2025);
(ii) Thời hạn xem xét, quyết định miễn chấp hành án phạt tù là 09 ngày. Theo đó, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị miễn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án phải phân công Thẩm phán chủ trì phiên họp; trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xét miễn chấp hành án phạt tù và ra quyết định (khoản 2 Điều 37 Luật Thi hành án hình sự 2025);
(iii) Thời hạn xét rút ngắn thời gian thử thách của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện là 07 ngày làm việc. Theo đó, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách, Chánh án Tòa án phải phân công Thẩm phán chủ trì phiên họp; trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xét rút ngắn thời gian thử thách và ra quyết định về việc rút ngắn thời gian thử thách (khoản 5 Điều 63 Luật Thi hành án hình sự 2025);
(iv) Thời hạn xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ là 07 ngày làm việc. Theo đó, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Chánh án Tòa án phải phân công Thẩm phán chủ trì phiên họp; trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xét giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và ra quyết định (khoản 5 Điều 100 Luật Thi hành án hình sự 2025);
(v) Thời hạn xem xét, quyết định miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ là 09 ngày. Theo đó, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Chánh án Tòa án phải phân công Thẩm phán chủ trì phiên họp; trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xét, quyết định (khoản 2 Điều 101);
(vi) Thời hạn xem xét, quyết định miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại là 09 ngày. Theo đó, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Chánh án Tòa án phải phân công 01 Thẩm phán chủ trì phiên họp để xét, quyết định miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại; trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, quyết định (khoản 2 Điều 107 Luật Thi hành án hình sự 2025);Điểm mới Luật Thi hành án hình sự 2025 từ 1 7
(vii) Thời hạn xem xét, quyết định miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại là 09 ngày. Theo đó, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Chánh án Tòa án phải phân công Thẩm phán chủ trì phiên họp; trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, quyết định (khoản 2 Điều 115 Luật Thi hành án hình sự 2025).Điểm mới Luật Thi hành án hình sự 2025 từ 1 7
(2) Quy định phiên họp do 01 Thẩm phán tiến hành
Luật Thi hành án hình sự 2025 quy định phiên họp:
(i) Xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù (khoản 3 Điều 36 Luật Thi hành án hình sự 2025);
(ii) Xét miễn chấp hành án phạt tù (khoản 2 Điều 37 Luật Thi hành án hình sự 2025);
(iii) Xem xét rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện (khoản 5 Điều 63 Luật Thi hành án hình sự 2025);
(iv) Xét rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo (khoản 5 Điều 85 Luật Thi hành án hình sự 2025);
(v) Xét buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo (khoản 4 Điều 89 Luật Thi hành án hình sự 2025);
(vi) Xét giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ (khoản 5 Điều 100 Luật Thi hành án hình sự 2025);
(vii) Xét miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ (khoản 2 Điều 101 Luật Thi hành án hình sự 2025);
(viii) Xét miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại (khoản 2 Điều 107 Luật Thi hành án hình sự 2025);
(ix) Xét miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại (khoản 2 Điều 115 Luật Thi hành án hình sự 2025) do 01 Thẩm phán tiến hành.
Đối với phiên họp xét tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện theo quy định tại Điều 368 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện gồm Chánh án và 02 Thẩm phán.
(3) Chuyển thẩm quyền giải quyết từ Tòa án nhân dân cấp tỉnh về Tòa án nhân dân khu vực
Luật Thi hành án hình sự 2025 quy định Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền:
(i) Xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù (khoản 3 Điều 32 Luật Thi hành án hình sự 2025);
(ii) Quyết định trưng cầu giám định pháp y, pháp y tâm thần đối với phạm nhân (khoản 3 Điều 52 Luật Thi hành án hình sự 2025);
(iii) Quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người đang chấp hành án phạt tù (khoản 1 Điều 134 Luật Thi hành án hình sự 2025).
(4) Bổ sung điều kiện được rút ngắn thời gian thử thách
Khắc phục vướng mắc của thực tiễn, Luật Thi hành án hình sự 2025 bổ sung điều kiện được đề nghị xét rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện (khoản 1 Điều 62 Luật Thi hành án hình sự 2025);
Xét rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo (khoản 1 Điều 84 Luật Thi hành án hình sự 2026);
Xét giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ (khoản 1 Điều 99 Luật Thi hành án hình sự 2026) là người chấp hành án phải có đơn đề nghị.
(5) Quy định Tòa án không chấp nhận đề nghị hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì phải ra quyết định
Luật Thi hành án hình sự 2025 quy định Tòa án phải ban hành quyết định không chấp nhận đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù (khoản 2 Điều 18 Luật Thi hành án hình sự 2025), tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù (khoản 3 Điều 32 Luật Thi hành án hình sự 2025) trong trường hợp Tòa án không chấp nhận đề nghị hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thay vì ban hành văn bản thông báo không chấp nhận đề nghị hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự 2019.
Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị đối với quyết định về việc hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, Tòa án phải có trách nhiệm trả lời Viện kiểm sát trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kháng nghị.
Trường hợp Tòa án không nhất trí với kháng nghị của Viện kiểm sát thì khiếu nại lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp (khoản 4 Điều 150 Luật Thi hành án hình sự 2025).
(6) Bổ sung quy định thời điểm xét rút ngắn thời gian thử thách, giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
Luật Thi hành án hình sự 2025 bổ sung quy định:
(i) Thời điểm xét rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện (khoản 1 Điều 63 Luật Thi hành án hình sự 2025);
(ii) Thời điểm xét rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo (khoản 1 Điều 85 Luật Thi hành án hình sự 2025);
(iii) Thời điểm xét giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ (khoản 1 Điều 100 Luật Thi hành án hình sự 2025) được thực hiện “mỗi năm 03 đợt, vào dịp Tết Dương lịch, ngày Chiến thắng và Quốc khánh”.
(7) Quy định Tòa án ra quyết định thi hành án phạt tù phải gửi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho cơ quan thi hành án
Để bảo đảm đầy đủ hồ sơ thi hành án phạt tù của phạm nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quy định của pháp luật thi hành án hình sự về chế độ của phạm nhân như tạm đình chỉ, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Luật Thi hành án hình sự 2025 quy định khi gửi quyết định thi hành án phạt tù, Tòa án phải gửi kèm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; trường hợp xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì phải kèm theo bản án sơ thẩm gửi cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định (khoản 3 Điều 16 và khoản 1 Điều 22 Luật Thi hành án hình sự 2025).
(8) Về quy định chuyển tiếp
Khoản 1 Điều 180 Luật Thi hành án hình sự 2025 quy định đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà đến ngày 01/7/2026 (ngày Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có hiệu lực thi hành) chưa được thi hành hoặc chưa thi hành xong thì áp dụng các quy định Luật Thi hành án hình sự 2025 để thi hành.
Nguyên tắc thi hành án hình sự từ ngày 01/7/2026 ra sao?
Nguyên tắc thi hành án hình sự từ ngày 01/7/2026 tại Điều 4 Luật Thi hành án hình sự 2025 như sau:
(1) Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
(2) Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
(3) Bảo đảm nhân đạo xã hội chủ nghĩa; tôn trọng danh dự, nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án, người chấp hành biện pháp tư pháp, quyền, lợi ích hợp pháp của pháp nhân thương mại chấp hành án.
(4) Kết hợp trừng trị và giáo dục cải tạo trong việc thi hành án; áp dụng biện pháp giáo dục cải tạo phải trên cơ sở tính chất, mức độ phạm tội, độ tuổi, sức khỏe, giới tính, trình độ học vấn và các đặc điểm nhân thân khác của người chấp hành án.
(5) Khuyến khích người chấp hành án ăn năn hối cải, tích cực học tập, lao động cải tạo, tự nguyện bồi thường thiệt hại.
(6) Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình sự.
(7) Bảo đảm sự tham gia của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình trong hoạt động thi hành án hình sự, tái hòa nhập cộng đồng theo quy định của pháp luật.
(8) Ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và hiện đại hóa hoạt động thi hành án hình sự.
Nguồn thông tin, dữ liệu thu thập về thi hành án hình sự từ ngày 01/7/2026 như thế nào?
Căn cứ Điều 9 Nghị định 160/2026/NĐ-CP quy định nguồn thông tin, dữ liệu thu thập về thi hành án hình sự từ ngày 01/7/2026 như sau:
- Nguồn thông tin, dữ liệu liên quan đến thi hành án hình sự được thu thập từ các nguồn sau đây:
+ Báo cáo định kỳ, báo cáo vụ việc, báo cáo chuyên đề về thi hành án hình sự và các số liệu thống kê theo mẫu theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng;
+ Hồ sơ người, pháp nhân thương mại chấp hành án, chấp hành biện pháp tư pháp;
+ Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia;
+ Các nguồn thông tin khác theo quy định của pháp luật.
- Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự có trách nhiệm tiếp nhận thông tin, dữ liệu do các cơ quan, tổ chức chia sẻ, cung cấp; thực hiện kiểm tra, xác thực, xử lý và chuẩn hóa dữ liệu trước khi tích hợp vào cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự để bảo đảm tính hợp lệ, chính xác và thống nhất của dữ liệu.
- Cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin, dữ liệu có trách nhiệm bảo đảm tính chính xác của dữ liệu do mình cung cấp và phối hợp với cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự trong việc kiểm tra, xác minh dữ liệu khi cần thiết.
8. Luật phòng, chống ma túy
Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 (Luật số 120/2025/QH15) được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 10/12/2025 tại Kỳ họp thứ 10. Luật gồm 08 chương, 56 điều, trong đó bổ sung mới 11 điều, sửa đổi, bổ sung 38 điều, bãi bỏ 10 điều, giữ nguyên 07 điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Luật gồm có 08 chương và 56 điều, trong đó có một số điểm mới và nội dung cơ bản đáng lưu ý như sau:
1. Công tác kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy
Luật bổ sung “Thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có chứa chất ma túy, tiền chất” vào chương kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy để tiến hành kiểm soát, quản lý theo quy định.
Hiện nay một số loại thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có chứa chất ma túy, tiền chất được sử dụng phổ biến trên thế giới nhằm tăng năng suất, chất lượng chăn nuôi. Tuy nhiên, ở Việt Nam các loại thức ăn này không được nhập khẩu để sử dụng do chưa được đưa vào danh mục kiểm soát hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy, vì vậy ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản trong nước. Quy định mới này vừa giúp cơ quan chức năng kiểm soát chặt chẽ các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy, đồng thời cũng tạo hành lang pháp lý để các doanh nghiệp có thể nhập khẩu thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có chứa chất ma túy, tiền chất một cách hợp pháp, phục vụ phát triển ngành chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản trong nước.
2. Công tác quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy
Thứ nhất, Trưởng Công an cấp xã có thẩm quyền ra quyết định quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy thay cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định của Luật hiện hành để giảm bớt các thủ tục hành chính và thuận tiện trong tổ chức thực hiện.
Thứ hai, người sử dụng trái phép chất ma túy có trách nhiệm cung cấp thông tin về nguồn gốc chất ma túy đã dùng và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, viết cam kết chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật. Trong thời gian quản lý, người sử dụng trái phép chất ma túy phải có mặt theo giấy triệu tập hoặc yêu cầu của Công an cấp xã.
Thứ ba, trường hợp người bị yêu cầu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể không chấp hành việc xét nghiệm thì bị áp giải theo thủ tục hành chính đến địa điểm xét nghiệm để tiến hành xét nghiệm. Quy định này giúp khắc phục tình trạng người bị yêu cầu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể không chấp hành việc xét nghiệm của người, cơ quan có thẩm quyền.
Thứ tư, khi di chuyển nơi cư trú, người sử dụng ma túy phải thông báo cho Công an nơi đi và trình diện nơi đến mới trong vòng 24 giờ. Công an cấp xã có trách nhiệm cập nhật danh sách quản lý, đồng thời chuyển thông tin cho địa phương tiếp nhận trong cùng thời hạn để tiếp tục quản lý.
Thứ năm, đối với người sử dụng trái phép chất ma túy bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Trưởng Công an cấp xã ra quyết định tạm đình chỉ quản lý. Trường hợp thời hạn tạm giữ, tạm giam dài hơn thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy còn lại thì Trưởng Công an cấp xã quyết định dừng việc quản lý. Trường hợp thời hạn tạm giữ, tạm giam ngắn hơn thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy còn lại thì tiếp tục thực hiện việc quản lý cho đến hết thời hạn quản lý. Quy định này đảm bảo người sử dụng trái phép chất ma túy bị quản lý hết thời hạn theo quy định.
Thứ sáu, bãi bỏ biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, đặc khu đối với người sử dụng trái phép chất ma túy để tránh trùng lặp với biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy do Luật Phòng, chống ma túy quy định.
3. Áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với người cai nghiện, người quản lý sau cai nghiện tại cộng đồng
- Một điểm mới đáng chú ý của Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 là việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử đối với người đang cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, người điều trị nghiện bằng thuốc thay thế và người quản lý sau cai nghiện ma túy. Đây là chính sách hoàn toàn mới, theo đó, người bị giám sát phải đeo thiết bị định vị chuyên dụng, không được tự ý tháo gỡ, phá hủy hay can thiệp làm rối loạn hoạt động của thiết bị. Nếu phát hiện thiết bị hư hỏng, người được giám sát phải báo ngay cho Công an cấp xã biết để xử lý. Chính phủ sẽ ban hành hướng dẫn chi tiết về hình thức thiết bị, đối tượng; điều kiện, thời hạn, trình tự, thủ tục áp dụng và hình thức xử lý khi có vi phạm.
- Việc quản lý bằng công nghệ được kỳ vọng giúp cơ quan chức năng giảm tải việc giám sát thủ công, ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác quản lý, giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý người nghiện, người sau cai nghiện ngoài cộng đồng. Việc đeo thiết bị giám sát cũng giúp cho người bị giám sát có ý thức chủ động tự phòng ngừa, làm giảm các nguy cơ có thể tự mình hoặc bị dụ dỗ lôi kéo vào việc tái sử dụng ma túy.
4. Thay đổi liên quan đến đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc
Thứ nhất, sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự có hiệu lực thi hành từ 01/7/2025, có sự giao thoa giữa đối tượng bị đưa đi cai nghiện bắt buộc và đối tượng bị xử lý hình sự về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” nên Luật Phòng, chống ma túy lần này bổ sung thêm nội dung “nếu không thuộc trường hợp bị xử lý theo quy định về pháp luật hình sự” để loại trừ các trường hợp bị xử lý hình sự ra khỏi các trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc nhằm phân định rõ đối tượng bị xử lý hình sự và đối tượng đưa đi cai nghiện bắt buộc.
Thứ hai, ngoài các quy định các trường hợp đưa đi cai nghiện bắt buộc như luật hiện hành, Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 còn bổ sung thêm 3 trường hợp đưa đi cai nghiện bắt buộc sau:
(1) Trong thời gian người nghiện ma túy cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế mà không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử thì bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc.
(2) Trong thời gian người nghiện ma túy cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế mà thực hiện một trong các hành vi thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì ngoài việc xử lý theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, Công an cấp xã nơi người đó cư trú lập biên bản, tổ chức kiểm điểm. Nếu tiếp tục vi phạm pháp luật mà không thuộc trường hợp bị xử lý theo quy định của pháp luật về hình sự thì bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc.
(3) Trong thời gian người nghiện ma túy cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế mà vi phạm pháp luật khác không thuộc trường hợp “không chấp hành việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử” hoặc “các hành vi thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu” mà vi phạm đến lần thứ ba thì bị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc.
5. Quy trình cai nghiện và thời hạn cai nghiện
- Theo quy định mới, thời hạn cai nghiện đối với người cai nghiện lần đầu là 24 tháng và 36 tháng đối với người cai nghiện từ lần thứ 2 trở lên thay cho thời hạn cai nghiện từ đủ 6 tháng đến 12 tháng và từ đủ 12 tháng đến 24 tháng như hiện nay. Tất cả các hình thức cai nghiện đều phải thực hiện đủ 5 giai đoạn của quy trình cai nghiện.
- Trường hợp người cai nghiện ma túy thực hiện cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân mà đã hoàn thành ít nhất 3 giai đoạn đầu của quy trình cai nghiện nhưng chưa hoàn thành đủ thời hạn và 5 giai đoạn của quy trình cai nghiện thì người cai nghiện ma túy phải tiếp tục thực hiện thời gian, quy trình cai nghiện còn lại tại gia đình, cộng đồng cho đến khi đủ thời hạn, quy trình quy định
- Người đang trong thời hạn cai nghiện ma túy, đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy mà bị kết án phạt tù có thời hạn, sau khi chấp hành xong án phạt tù mà vẫn còn thời hạn cai nghiện ma túy hoặc thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy thì phải tiếp tục cai nghiện ma túy hoặc tiếp tục quản lý sau cai nghiện ma túy thời hạn còn lại.
- Các quy định mới này nhằm tránh nguy cơ tiêu cực, không thống nhất khi xem xét ra quyết định thời hạn cai nghiện. Đồng thời đảm bảo tất cả người nghiện đều phải thực hiện đủ thời hạn, quy trình cai nghiện, giúp nâng cao hiệu quả công tác này.
6. Hệ thống cơ sở cai nghiện
Ngoài hệ thống cơ sở cai nghiện công lập và cơ sở cai nghiện tư nhân như hiện nay, Luật mới quy định nơi cai nghiện ma túy bắt buộc cho người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi là trường giáo dưỡng để bảo đảm quyền lợi cho người dưới 18 tuổi, nhất là việc tổ chức học văn hóa cho họ. Bên cạnh việc đưa vào trường giáo dưỡng, có thể đưa người nghiện đủ từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cai nghiện tại cơ sở cai nghiện công lập nếu cơ sở đủ điều kiện thực hiện cai nghiện ma túy cho người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi.
7. Việc sử dụng thành quả quá trình lao động trị liệu của người cai nghiện
Luật bổ sung quy định việc tổ chức lao động trị liệu cho người cai nghiện ma túy theo các hình thức do cơ quan có thẩm quyền quyết định và việc sử dụng kết quả lao động trị liệu của người cai nghiện ma túy để phục vụ cho người nghiện ma túy. Nội dung này giao Chính phủ quy định chi tiết.
Như vậy, Luật Phòng, chống ma túy đã được sửa đổi toàn diện nhằm thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý trong phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm ma túy, giải quyết những khó khăn, vướng mắc xuất phát từ thực tiễn công tác quản lý Nhà nước về cai nghiện ma túy và công tác quản lý sau cai nghiện ma túy. Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 ra đời là bước tiến quan trọng trong lộ trình hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống, kiểm soát ma túy và cai nghiện ma túy, đáp ứng được yêu cầu công tác phòng, chống ma túy trong tình hình hiện nay.
- Luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
9. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật tiếp công dân, luật khiếu nại, luật tố cáo
- Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật số 136/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Đây là văn bản pháp luật quan trọng, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
- So với quy định trước đây, Luật sửa đổi, bổ sung lần này có nhiều điểm mới, bám sát yêu cầu thực tiễn và phù hợp với quá trình đổi mới tổ chức bộ máy, cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia.
- Trong đó, Luật Tiếp công dân đã bổ sung hình thức tiếp công dân trực tuyến bên cạnh tiếp công dân trực tiếp. Quy định này thể hiện bước tiến mới trong cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân trong việc phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, nhất là đối với những trường hợp ở xa, khó khăn trong đi lại hoặc không có điều kiện đến trực tiếp cơ quan có thẩm quyền.
- Cùng với đó, Luật sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến thông tin của người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo hướng đồng bộ với pháp luật hiện hành về căn cước, định danh cá nhân. Theo đó, người dân khi thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh phải nêu rõ họ tên, địa chỉ, số căn cước hoặc giấy chứng nhận căn cước hoặc số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu; trường hợp thực hiện thông qua người được ủy quyền thì phải có văn bản ủy quyền hợp pháp. Việc hoàn thiện quy định này không chỉ bảo đảm tính chính xác, minh bạch trong tiếp nhận thông tin mà còn góp phần nâng cao hiệu quả xử lý vụ việc, hạn chế tình trạng mạo danh, khiếu nại, tố cáo không rõ chủ thể.
- Trong Luật cũng quy định rõ hơn trách nhiệm tiếp công dân ở cấp xã. Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp phụ trách công tác tiếp công dân, trực tiếp tiếp công dân ít nhất 02 ngày trong 01 tháng và thực hiện tiếp công dân đột xuất trong các trường hợp luật định. Quy định này nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu ở cơ sở, nơi gần dân nhất, trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, phản ánh của Nhân dân. Đây cũng là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giải quyết vụ việc ngay từ cơ sở, góp phần hạn chế khiếu nại, tố cáo kéo dài, vượt cấp.
- Đối với Luật Khiếu nại, điểm mới nổi bật là đã quy định cụ thể, đầy đủ hơn về việc rút khiếu nại; tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại. Người khiếu nại có thể rút toàn bộ hoặc một phần nội dung khiếu nại ở bất cứ thời điểm nào trong quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại. Việc rút khiếu nại phải được thể hiện bằng đơn hoặc biên bản ghi nhận ý kiến và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại. Đồng thời, Luật cũng bổ sung các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại như: có sự kiện bất khả kháng, cần chờ kết quả giải quyết của cơ quan có liên quan, người khiếu nại rút toàn bộ nội dung khiếu nại, vụ việc không còn đối tượng để giải quyết hoặc đã được Tòa án thụ lý, giải quyết. Những quy định mới này giúp làm rõ trình tự, thủ tục, bảo đảm cơ sở pháp lý chặt chẽ, thống nhất hơn trong quá trình giải quyết khiếu nại.
- Luật Khiếu nại sửa đổi cũng bổ sung quy định: trường hợp người khiếu nại đã được mời đối thoại nhưng không tham gia mà không có lý do chính đáng thì người giải quyết khiếu nại vẫn tiếp tục giải quyết vụ việc. Đây là quy định cần thiết để tránh kéo dài thời gian giải quyết do sự chậm trễ hoặc thiếu hợp tác từ phía người khiếu nại, đồng thời vẫn bảo đảm tính khách quan, đúng pháp luật trong quá trình xem xét, giải quyết vụ việc. Bên cạnh đó, thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cũng được sửa đổi, bổ sung theo hướng rõ hơn, phù hợp hơn với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hiện nay. Luật đồng thời tiếp tục hoàn thiện vai trò của cơ quan thanh tra và đơn vị được giao tham mưu trong việc kiểm tra, xác minh, theo dõi, đôn đốc, kiến nghị xử lý khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong công tác giải quyết khiếu nại.
- Đối với Luật Tố cáo, Luật sửa đổi, bổ sung tiếp tục làm rõ thẩm quyền giải quyết tố cáo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, nhất là ở cấp xã, cấp tỉnh và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân. Việc sửa đổi này góp phần bảo đảm phân định rõ trách nhiệm, thẩm quyền giải quyết tố cáo, tránh chồng chéo, bỏ sót hoặc đùn đẩy trách nhiệm trong thực tiễn thi hành. Luật đã bổ sung quy định cho phép, trong từng vụ việc cụ thể, Thủ tướng Chính phủ ủy quyền cho Tổng Thanh tra Chính phủ thụ lý tố cáo, xác minh, kết luận nội dung tố cáo sau khi xem xét điều kiện thụ lý. Quy định này góp phần nâng cao tính linh hoạt, kịp thời trong xử lý những vụ việc tố cáo phức tạp, nhạy cảm, có phạm vi ảnh hưởng lớn, đồng thời phát huy vai trò của cơ quan thanh tra trong tham mưu, giúp Chính phủ xử lý hiệu quả các vụ việc phát sinh.
- Luật Tố cáo sửa đổi cũng bổ sung, hoàn thiện quy định về việc rút tố cáo. Theo đó, người tố cáo có quyền rút toàn bộ hoặc một phần nội dung tố cáo trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận nội dung tố cáo. Đồng thời, trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận nội dung tố cáo cũng được quy định cụ thể hơn, giao cho người giải quyết tố cáo hoặc cơ quan thanh tra cùng cấp, đơn vị tham mưu giải quyết tố cáo thực hiện. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả thực hiện kết luận sau tố cáo, bảo đảm các quyết định, kết luận được chấp hành nghiêm túc trong thực tế.
- Một nội dung có ý nghĩa quan trọng là Luật đã nhấn mạnh yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đây không chỉ là định hướng quản lý hiện đại mà còn là điều kiện cần thiết để tăng cường công khai, minh bạch, kết nối dữ liệu, nâng cao năng lực theo dõi, tổng hợp, phân tích và xử lý vụ việc trong toàn hệ thống cơ quan nhà nước.
- Như vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo được ban hành đã tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý trong lĩnh vực tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo; đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy, cải cách hành chính và chuyển đổi số trong giai đoạn hiện nay. Những điểm mới của Luật không chỉ góp phần nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền mà còn bảo đảm tốt hơn quyền làm chủ của Nhân dân, tăng cường công khai, minh bạch và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
- Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026.
10. Luật thuế thu nhập cá nhân
- Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XV, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi), với 92,6% đại biểu tham gia biểu quyết tán thành. Dự kiến toàn bộ Luật Thuế Thu nhập cá nhân (sửa đổi) năm 2025 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026. Quy định về biểu thuế lũy tiến từng phần (từ tiền lương, tiền công) và quy định về thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh được áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026 (tức là áp dụng ngay từ ngày 01 tháng 01 năm 2026). Trong đó, một số nội dung mới, tác động trực tiếp đến người đóng thuế, được người dân và doanh nghiệp rất quan tâm, như sau:
- Mức giảm trừ gia cảnh đã được điều chỉnh bằng Nghị quyết số 110/2025/UBTVQH15, ngày 17 tháng 10 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được cập nhật trong Luật sửa đổi sắp tới: Đối tượng giảm trừ là bản thân người nộp thuế thay đổi từ 11.000.000 đồng/tháng thành 15.500.000 đồng/tháng (186 triệu đồng/năm); mỗi người phụ thuộc thay đổi từ 4.400.000 đồng/tháng thành 6.200.000 đồng/tháng (74,4 triệu đồng/năm). Việc tăng mức giảm trừ sẽ giúp giảm đáng kể số thuế thu nhập cá nhân phải nộp, hoặc mở rộng đối tượng được miễn thuế, tạo điều kiện để người dân có thu nhập thực tế cao hơn để chi tiêu và tích lũy.
- Thay đổi Biểu thuế lũy tiến từng phần nhằm phù hợp với mức giảm trừ gia cảnh mới và cơ cấu thu nhập hiện tại của người lao động. Các ngưỡng thu nhập tính thuế đã được điều chỉnh tăng ở một số bậc để phù hợp với mức giảm trừ gia cảnh mới và lạm phát, đặc biệt là các bậc thấp và trung bình, giúp người nộp thuế có thu nhập cao hơn mới phải chịu thuế suất cao hơn. Quy định này giảm gánh nặng cho đại đa số người lao động có thu nhập trung bình, đồng thời đảm bảo người có thu nhập siêu cao đóng góp nhiều hơn cho ngân sách nhà nước.
- Chính sách hỗ trợ cho cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ được quy định liên quan đến ngưỡng doanh thu miễn thuế thu nhận cá nhân của hộ, cá nhân kinh doanh. Trong đó, nâng ngưỡng miễn thuế thu nhập của hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm dương lịch không vượt quá 500 triệu đồng được miễn thuế. Bổ sung phương pháp tính thuế theo thu nhập thực tế (doanh thu trừ chi phí) đối với hộ, cá nhân kinh doanh có quy mô lớn, phù hợp với quy định của Chính phủ.
- Ngoài ra, Luật cũng bổ sung thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, kinh doanh tài sản ảo, tiền ảo, các sản phẩm số hóa khác (thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng tài sản) vào diện chịu thuế. Từ đó đảm bảo tính công bằng và chống thất thu ngân sách, yêu cầu các cá nhân có thu nhập từ các hình thức kinh doanh mới này phải thực hiện nghĩa vụ kê khai và nộp thuế Thu nhập cá nhân.
- Để chủ động thực hiện đúng nghĩa vụ và quyền lợi thuế, khuyến nghị người dân và doanh nghiệp theo dõi Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi) sẽ được ban hành chính thức trong thời gian tới.
- Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026.