TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ XÃ Di Linh - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Xã Di Linh tổ chức tuyên truyền các nội dung về trợ giúp pháp lý

    Xã Di Linh tổ chức tuyên truyền các nội dung về trợ giúp pháp lý.pdf
  • Kế hoạch Truyền thông về trợ giúp pháp lý năm 2026 trên địa bàn xã Di Linh

    KẾ HOẠCH TRUYỂN THÔNG PHÁP LÝ 2026.pdf
  • Các chính sách pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 6 năm 2026

    Từ tháng 6/2026, nhiều chính sách đáng chú ý có hiệu lực. Trong đó, không thể không kể đến chính sách về giáo dục, hành chính, thuế và rất nhiều quy định mới đáng chú ý khác
  • Đẩy mạnh truyền thông, phổ biến các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất và định hướng một số nội dung PBGDPL

    Thực hiện Công văn số 3454/HĐPH-PB&TG ngày 20/5/2026 của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Lâm Đồng vừa ban hành Công văn số 15/CV-HĐPH về việc truyền thông, phổ biến các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất và định hướng một số nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) trên địa bàn tỉnh.
  • Nghị định số 152/2026/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự

    Ngày 13/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 152/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026.
  • Quyền và nghĩa vụ của người được trợ giúp pháp lý lĩnh vực, hình thức trợ giúp pháp lý

    I. NGƯỜI ĐƯỢC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Người có công với cách mạng; Người thuộc hộ nghèo; Trẻ em; Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân; Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo; Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính: Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; Người nhiễm chất độc da cam; Người cao tuổi; Người khuyết tật; Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; Người nhiễm HIV. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện khó khăn về tài chính của người được trợ giúp pháp lý quy định tại khoản này phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội. II. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI ĐƯỢC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ 1. Quyền của người được trợ giúp pháp lý: Được trợ giúp pháp lý mà không phải trả tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác; Tự mình hoặc thông qua người thân thích, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác yêu cầu trợ giúp pháp lý; Được thông tin về quyền được trợ giúp pháp lý, trình tự, thủ tục trợ giúp pháp lý khi đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và các cơ quan nhà nước có liên quan; Yêu cầu giữ bí mật về nội dung vụ việc trợ giúp pháp lý; Lựa chọn một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương trong danh sách được công bố; yêu cầu thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý khi người đó thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 25 của Luật Trợ giúp pháp lý; Thay đổi, rút yêu cầu trợ giúp pháp lý; Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp Luật; Khiếu nại, tố cáo về trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Nghĩa vụ của người được trợ giúp pháp lý: Cung cấp giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý; Hợp tác, cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu, chứng cứ đó; Tôn trọng tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý; Không yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác trợ giúp pháp lý cho mình về cùng một vụ việc đang được một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý thụ lý, giải quyết; Chấp hành pháp luật về trợ giúp pháp lý và nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý. III. LĨNH VỰC, HÌNH THỨC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ 1. Lĩnh vực trợ giúp pháp lý: Trợ giúp pháp lý được thực hiện trong các lĩnh vực pháp luật, trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại. 2. Các hình thức trợ giúp pháp lý: Tham gia tố tụng; Tư vấn pháp luật; Đại diện ngoài tố tụng. IV. CÁC HÀNH VI BỊ NGHIÊM CẤM 1. Nghiêm cấm tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý có hành vi sau đây: Xâm phạm danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý; phân biệt đối xử người được trợ giúp pháp lý; Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được trợ giúp pháp lý; sách nhiễu người được trợ giúp pháp lý; Tiết lộ thông tin về vụ việc trợ giúp pháp lý, về người được trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp người được trợ giúp pháp lý đồng ý bằng văn bản hoặc luật có quy định khác; Từ chối hoặc không tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý và quy định của pháp luật về tố tụng; Lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý để trục lợi, xâm phạm quốc phòng, an ninh quốc gia, gây mất trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đạo đức xã hội; Xúi giục, kích động người được trợ giúp pháp lý cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trái pháp luật. 2. Nghiêm cấm người được trợ giúp pháp lý, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý có hành vi sau đây: Xâm phạm sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người thực hiện trợ giúp pháp lý và uy tín của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý; Cố tình cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về vụ việc trợ giúp pháp lý; Đe dọa, cản trở, can thiệp trái pháp luật vào hoạt động trợ giúp pháp lý; gây rối, làm mất trật tự, vi phạm nghiêm trọng nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý ĐƠN VÀ CÁC GIẤY TỜ CỦA NGƯỜI YÊU CẦU TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CÓ THỂ GỬI TRỰC TIẾP (HOẶC GỬI QUA DỊCH VỤ BƯU CHÍNH) THEO ĐỊA CHỈ: - Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lâm Đồng: số 86 Đoàn Thị Điểm, phường Xuân Hương - Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Số điện thoại: 02633.832.468 - 02633.511.151 - Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 01. Địa chỉ: số 31 Lê Hồng Phong, phường 1 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Số điện thoại: 0263.3865.022 - Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 02. Địa chỉ: số 06 đường Nguyễn Tất Thành, phường Phan Thiết, tỉnh Lâm Đồng. Số điện thoại: 0252.3821.615 - Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 03. Địa chỉ: số 94 đường Nguyễn Tất Thành, xã Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng. Số điện thoại: 0252.3860.879 - Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 04. Địa chỉ: số 15 đường Lê Duẩn, phường Nam Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng. Số Điện thoại: 0261.3544.744 - Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 05. Địa chỉ: số 10 đường Tôn đức Thắng, xã K’Rông Nô, tỉnh Lâm Đồng. Số điện thoại: 0261.3556.368
  • Một số chính sách pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 4 năm 2026

    Từ ngày 01/4/2026, nhiều chính sách pháp luật quan trọng chính thức có hiệu lực thi hành, tác động trực tiếp đến các lĩnh vực khoa học công nghệ, quản lý kinh tế, giáo dục và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội
  • Sửa đổi các quy định liên quan đến lĩnh vực hộ tịch nhằm cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân

    Ngày 14/01/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp. Trong đó, có liên quan đến lĩnh vực hộ tịch (sửa đổi, bổ sung Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 87/2020/NĐ-CP, Nghị định số 104/2022/NĐ-CP, Nghị định số 07/2025/NĐ-CP) Nghị định số 18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung 04 nội dung trọng tâm, quan trọng trong lĩnh vực hộ tịch nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, thực hiện việc sử dụng dữ liệu thay thế cho thành phần hồ sơ theo quy định tại Nghị quyết 66.7/2025/NĐ-CP ngày 15/11/2025 của Chính phủ quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu, đó là: - Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2 về xuất trình, nộp giấy tờ khi đăng ký hộ tịch theo hướng quy định rõ cơ chế giải quyết thủ tục dựa trên dữ liệu điện tử, hạn chế yêu cầu xuất trình giấy tờ bản chính. Đồng thời, quy định rõ phương thức xử lý khi không khai thác được thông tin hoặc thông tin không chính xác. Trường hợp giấy tờ tùy thân sử dụng là: Hộ chiếu, Thẻ Căn cước, Căn cước công dân, Giấy chứng nhận căn cước thì chỉ cần cung cấp thông tin về giấy tờ (số, ngày tháng năm cấp) hoặc số định danh cá nhân, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu thông tin thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc cơ sở dữ liệu khác có liên quan để đối chiếu, khai thác dữ liệu. Trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác thì cơ quan đăng ký hộ tịch yêu cầu người đi đăng ký hộ tịch xuất trình bản chính giấy tờ để chứng minh, đồng thời đề nghị người đi đăng ký hộ tịch cập nhật, điều chỉnh thông tin trong các cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật.". - Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 22 về thủ tục xác nhận tình trạng hôn nhân đã ly hôn hoặc có vợ/chồng chết và khoản 2 Điều 24 về việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ/đã có chồng nhưng đã ly hôn tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền hoặc vợ/chồng đã chết và đã đăng ký khai tử tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền thì người yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin về giấy tờ; cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu, khai thác thông tin của các giấy tờ này thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.". Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tất cả giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại. Trường hợp giấy tờ, tài liệu là giấy tờ hộ tịch hoặc giấy tờ cá nhân thuộc nhóm giấy tờ có thể được thay thế bằng dữ liệu (giấy tờ tùy thân; giấy tờ chứng minh về nơi cư trú; Thẻ bảo hiểm y tế) thì cung cấp các thông tin về giấy tờ, tài liệu đó theo hướng dẫn của cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu, khai thác thông tin, giấy tờ, tài liệu đó thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu khác có liên quan. - Không yêu cầu xác nhận của Thủ trưởng cơ quan khi đăng ký lại khai sinh với công chức, viên chức, lực lượng vũ trang nếu đã có thông tin trên hệ thống cơ sở dữ liệu Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 26 về việc đăng ký lại khai sinh với đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang theo hướng bỏ yêu cầu nộp văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị nếu cơ quan chức năng khai thác được những thông tin này thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu về cán bộ, công chức, viên chức - Sửa đổi quy trình xác minh đăng ký lại khai sinh/kết hôn theo hướng tra cứu dữ liệu hộ tịch điện tử Sửa đổi, bổ sung về quy trình xác minh hồ sơ đối với đề nghị đăng ký lại khai sinh (khoản 2 Điều 26) và đăng ký lại kết hôn (khoản 2 Điều 27) khi thực hiện tại UBND cấp xã không phải nơi đăng ký trước đây theo hướng cán bộ tư pháp kiểm tra thông tin về việc đăng ký khai sinh/kết hôn trước đây trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thông qua nghiệp vụ cấp bản sao; dùng kết quả tra cứu này là căn cứ để xác định về điều kiện đăng ký lại. Thay vì phải cần xác nhận văn bản từ Ủy ban nhân dân nơi đăng ký khai sinh/ kết hôn trước đây.
  • Trình tự, thủ tục cưỡng chế quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định mới tại Nghị định số 296/2025/NĐ-CP của Chính phủ

    Ngày 16/11/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 296/2025/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật và bảo đảm kỷ cương, trật tự trong quản lý nhà nước. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2026 và thay thế Nghị định số 166/2013/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Nhằm bảo đảm việc thi hành nghiêm minh các quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Nghị định quy định chi tiết trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế đã dành Chương II để quy định rõ ràng, minh bạch về trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức liên quan. Dưới đây là những nội dung đáng chú ý: 1. Cưỡng chế bằng hình thức khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập: Biện pháp này áp dụng cho cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người làm việc hưởng lương tại cơ quan, đơn vị; người làm việc theo thời vụ có thu nhập; và người đang hưởng chế độ hưu trí nhưng không tự nguyện thi hành quyết định xử phạt. Việc xác minh thông tin về lương, thu nhập được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu. Cá nhân, cơ quan quản lý tiền lương phải cung cấp thông tin trung thực và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trên cơ sở thông tin đã được xác minh, trong 02 ngày làm việc, người có thẩm quyền phải ban hành quyết định cưỡng chế khấu trừ. Quyết định cưỡng chế ghi rõ mức tiền bị khấu trừ, tài khoản Kho bạc Nhà nước nhận tiền, thời gian thực hiện và trách nhiệm phối hợp của đơn vị sử dụng lao động. Tỷ lệ khấu trừ được quy định cụ thể: - Không quá 30% đối với tiền lương và lương hưu. - Không quá 50% đối với các khoản thu nhập khác, nhưng vẫn phải bảo đảm mức sống tối thiểu của người bị cưỡng chế và người phụ thuộc. Cơ quan, đơn vị quản lý tiền lương có trách nhiệm khấu trừ, chuyển tiền đúng thời hạn và thông báo cho cá nhân, người có thẩm quyền cưỡng chế. Mọi hành vi cố tình không cung cấp thông tin hoặc không chấp hành quyết định cưỡng chế đều bị xem là cản trở người thi hành công vụ và bị xử lý theo quy định pháp luật. 2. Cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản Biện pháp này áp dụng với cá nhân, tổ chức mở tài khoản tại các tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước nhưng không tự giác thi hành quyết định xử phạt hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Cá nhân, tổ chức có trách nhiệm cung cấp thông tin về tài khoản trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được yêu cầu. Trường hợp không cung cấp, cơ quan có thẩm quyền sẽ trực tiếp gửi văn bản đến ngân hàng, Kho bạc Nhà nước đề nghị cung cấp thông tin. Sau khi xác định được thông tin tài khoản, trong 05 ngày làm việc, cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản hoặc phong tỏa tài khoản. Tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước phải: - Phong tỏa tài khoản trong 01 ngày làm việc kể từ khi nhận quyết định cưỡng chế. - Sau 05 ngày, thực hiện trích chuyển số tiền phải khấu trừ nộp vào ngân sách Nhà nước và thông báo lại bằng văn bản. Cơ quan tín dụng không hợp tác sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật. 3. Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá Kê biên tài sản được thực hiện khi các biện pháp khác không đảm bảo thi hành quyết định xử phạt. Nguyên tắc kê biên là chỉ kê biên tài sản tương ứng với số tiền phải thi hành, bao gồm cả chi phí tổ chức cưỡng chế. Nghị định quy định danh mục tài sản không được kê biên, như: nhà ở duy nhất đủ tiêu chuẩn theo pháp luật về cư trú, thuốc chữa bệnh, đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, di vật, huân chương, bằng khen, tài sản của cơ sở y tế, trường học không dùng để kinh doanh, tài sản đang được thế chấp hợp pháp… Việc xác minh tài sản, lập biên bản, tổ chức kê biên chỉ được thực hiện ban ngày, từ 08h đến 17h, không tiến hành vào ngày nghỉ, lễ, Tết; bảo đảm khách quan, đúng quy trình. Nghị định 296/2025/NĐ-CP đã quy định đầy đủ, chặt chẽ các trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm mọi quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thực thi nghiêm túc, công bằng và minh bạch. Mọi cá nhân, tổ chức cần nắm rõ quy định để thực hiện đúng trách nhiệm pháp lý, đồng thời phối hợp với cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu.
  • Một số tình huống pháp luật về chứng thực

    TÌNH HUỐNG VỀ CHỨNG THỰC

Tổng số : 17 bài viết

12