1. Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Tiếp cận thông tin 2026 (Luật số 01/2026/QH16). Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026.
Theo quy Điều 15 Luật Tiếp cận thông tin 2026 thì các nhóm thông tin công dân không được tiếp cận bao gồm:
- Thông tin thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
Khi thông tin thuộc bí mật nhà nước được giải mật thì công dân được tiếp cận theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin 2026
- Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo quy định của pháp luật dân sự và dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật Tiếp cận thông tin 2026.
- Bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật Tiếp cận thông tin 2026.
- Thông tin mà nếu cung cấp sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp hoặc tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc người khác.
Việc xác định thông tin tài khoản 4 Điều 16 Luật Tiếp cận thông tin 2026 thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan; trường hợp pháp luật chưa quy định, căn cứ vào điều kiện thực tế, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm xem xét, quyết định việc cung cấp thông tin.
- Thông tin thuộc bí mật công tác do cơ quan, đơn vị xác định theo quy định của pháp luật.
- Thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan, đơn vị; tài liệu do cơ quan, đơn vị soạn thảo cho công việc nội bộ.
2. Ngày 26/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 337/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin. Nghị định 337/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2026.
Căn cứ theo Điều 2 Nghị định 337/2026/NĐ-CP quy định các biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin từ 10/9/2026 như sau:
- Đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, ứng dụng công nghệ số trong cung cấp thông tin phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương.
- Vận hành, duy trì và phát triển cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, các kênh thông tin, trang cộng đồng chính thức của cơ quan, đơn vị. Duy trì, lưu giữ, cập nhật, quản lý cơ sở dữ liệu thông tin của cơ quan, đơn vị, bảo đảm thông tin có hệ thống, đầy đủ, toàn diện, dễ dàng tra cứu, tải về, sử dụng; thực hiện các biện pháp kỹ thuật và quy trình để quản lý, bảo vệ thông tin theo quy định của pháp luật.
- Nâng cao chất lượng công tác văn thư, lưu trữ, thống kê; trang bị phương tiện kỹ thuật, công nghệ thông tin và các điều kiện cần thiết khác để người yêu cầu cung cấp thông tin được sao, chụp, tải về văn bản, hồ sơ, tài liệu, trừ trường hợp pháp luật có liên quan quy định khác.
- Tăng cường cung cấp thông tin thông qua hoạt động của người phát ngôn của cơ quan, đơn vị (nếu có), trên phương tiện thông tin đại chúng và qua mạng Internet.
- Bồi dưỡng nâng cao năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ cho người được giao nhiệm vụ cung cấp thông tin.
- Bố trí hợp lý nơi tiếp nhận, giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin phù hợp với điều kiện của từng cơ quan, đơn vị.
3. Ngày 07/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 312/2026/NĐ-CP về kết hợp an ninh với kinh tế - xã hội và kinh tế - xã hội với an ninh. Nghị định này có hiệu lực từ 22/9/2026.
Theo đó, tại Điều 3 Nghị định 312/2026/NĐ-CP quy định nguyên tắc kết hợp an ninh với kinh tế - xã hội và kinh tế - xã hội với an ninh như sau:
- Đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; tuân thủ Hiến pháp và pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, sự phát triển bền vững, ổn định của kinh tế - xã hội; tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; hoạt động kết hợp được thực hiện xuyên suốt từ giai đoạn xây dựng đến triển khai thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án có liên quan đến an ninh; trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội; trên từng vùng lãnh thổ, địa bàn chiến lược, biên giới, biển, hải đảo.
- Bảo đảm công khai, minh bạch, cụ thể yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội.
Về nội dung kết hợp an ninh với kinh tế - xã hội và kinh tế - xã hội với an ninh được quy định như sau:
- Kết hợp an ninh với kinh tế - xã hội là việc đáp ứng yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh trong quá trình xây dựng, triển khai thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội; sử dụng tài nguyên, cung cấp sản phẩm, dịch vụ đặc thù của lực lượng Công an nhân dân phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
- Kết hợp kinh tế - xã hội với an ninh là việc phát triển, tăng cường tiềm lực công nghiệp an ninh; việc xây dựng, triển khai thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án trong lĩnh vực kinh tế - xã hội phục vụ nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
4. Ngày 06/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 311/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 189/2025/NĐ-CР quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 26/9/2026.
- Tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 189/2025/NĐ-CР, được sửa đổi bởi Nghị định 311/2026/NĐ-CP quy định Chánh Thanh tra tỉnh có quyền:
+ Phạt cảnh cáo;
+ Phạt tiền đến 80% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012;
+ Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
+ Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.
- Tại Điều 7 Nghị định 189/2025/NĐ-CР được sửa đổi Nghị định 311/2026/NĐ-CP quy định thẩm quyền của Thanh tra trong xử phạt vi phạm hành chính như sau:
+ Thanh tra viên các bộ, cơ quan ngang bộ: Quốc phòng, Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Thanh tra viên Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh; Thanh tra viên Cơ yếu, An toàn bức xạ và hạt nhân, Hàng hải Việt Nam, Đường thủy Việt Nam, Hàng không Việt Nam, Chứng khoán Nhà nước có quyền:
+ Phạt cảnh cáo;
+ Phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012;
+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt quy định trên.
- Trưởng đoàn thanh tra của Thanh tra tỉnh; Trưởng đoàn thanh tra của Thanh tra: An toàn bức xạ và hạt nhân, Hàng hải Việt Nam, Đường thủy Việt Nam, Hàng không Việt Nam, Chứng khoán Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước khu vực, Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Công an cấp tỉnh, Ban Cơ yếu Chính phủ; Trưởng đoàn thanh tra cấp quân khu, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội trong thời hạn thanh tra có quyền:
+ Phạt cảnh cáo;
+ Phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012;
+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
+ Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.
- Chánh Thanh tra Cơ yếu; Chánh Thanh tra Cục An toàn bức xạ và hạt nhân; Chánh Thanh tra Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam; Chánh Thanh tra Cục Hàng không Việt Nam; Chánh Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; Chánh Thanh tra quốc phòng quân khu; Chánh Thanh tra quốc phòng Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội; Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước khu vực; Chánh Thanh tra Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng; Chánh Thanh tra Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Chánh Thanh tra Công an cấp tỉnh có quyền:
+ Phạt cảnh cáo;
+ Phạt tiền đến 80% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012;
+ Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
+ Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.
- Chánh Thanh tra các bộ, cơ quan ngang bộ: Quốc phòng, Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Trưởng đoàn thanh tra của Thanh tra Chính phủ; Trưởng đoàn thanh tra của các bộ, cơ quan ngang bộ: Quốc phòng, Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời hạn thanh tra có quyền:
+ Phạt cảnh cáo;
+ Phạt tiền đến mức tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012;
+ Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
+ Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012.
5. Ngày 04/8/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 307/2026/NĐ-CP quy định về lựa chọn, công nhận, chính sách đối với người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và chính sách thăm hỏi, chúc mừng, tặng quà, động viên, gặp mặt, biểu dương, tôn vinh đối với một số tổ chức, cá nhân người dân tộc thiểu số. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ 20/09/2026.
Theo đó, chính sách hỗ trợ vật chất, động viên tinh thần với người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số như sau:
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (gọi chung là tỉnh) chỉ đạo, tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ vật chất, động viên tinh thần người có uy tín như sau:
+ Thăm hỏi, tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán, Tết hoặc lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số; tối đa 03 lần/người/năm; mức chi 1.000.000 đồng/người/lần.
+ Thăm hỏi, hỗ trợ người có uy tín bị ốm đau không quá 01 lần/năm. Mức chi theo thực tế, tối đa: 5.000.000 đồng/người khi điều trị bệnh tại cấp khám bệnh, chữa bệnh chuyên sâu; 3.000.000 đồng/người khi điều trị tại cấp khám chữa bệnh cơ bản; 1.000.000 đồng/người khi điều trị tại cấp khám bệnh, chữa bệnh ban đầu.
+ Thăm hỏi, hỗ trợ kịp thời hộ gia đình người có uy tín gặp khó khăn đột xuất do sự cố, thiên tai, hỏa hoạn bị thiệt hại về người (chết, mất tích, bị thương nặng) thì được thăm hỏi 5.000.000 đồng/người; bị thiệt hại về tài sản được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú xác nhận, xác định mức độ thiệt hại thì được thăm hỏi theo thực tế, tối đa 5.000.000 đồng/hộ/lần (không quá 10.000.000 đồng/hộ/năm).
+ Thăm viếng, động viên khi người có uy tín, thân nhân trong gia đình (con đẻ, con nuôi, vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, cha vợ, cha chồng, mẹ vợ, mẹ chồng) chết: 1.000.000 đồng/trường hợp.
- Lãnh đạo chủ chốt, lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đoàn công tác Hội đồng Dân tộc của Quốc hội; Bộ Dân tộc và Tôn giáo thăm, làm việc tại các địa phương:
+ Thăm hỏi, chúc mừng, tặng quà trị giá không quá 1.000.000 đồng/người có uy tín.
+ Thăm hỏi, hỗ trợ người có uy tín bị ốm đau, gia đình gặp khó khăn đột xuất do sự cố, thiên tai, hỏa hoạn bị thiệt hại về người hoặc tài sản, có thân nhân trong gia đình chết: 5.000.000 đồng/trường hợp.
6. Ngày 30/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 301/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 63/2024/NĐ-CP quy định việc thực hiện liên thông điện tử 02 nhóm thủ tục hành chính: đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi; đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, giải quyết mai táng phí, tử tuất, trong đó có sửa đổi quy định về giải quyết hồ sơ đăng ký khai sinh điện tử. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2026.
Theo đó, thủ tục giải quyết hồ sơ đăng ký khai sinh điện tử từ 1/9/2026 được thực hiện như sau:
Sau khi hồ sơ đăng ký khai sinh điện tử được Cổng Dịch vụ công quốc gia chuyển tới Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp và được Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp đồng bộ hồ sơ về Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp thì người thực hiện công tác hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nghiệp vụ đăng ký khai sinh trên Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp.
- Trường hợp hồ sơ đầy đủ, hợp lệ: Người thực hiện công tác hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nghiệp vụ đăng ký khai sinh trên Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp và chuyển thông tin đến Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để cấp Số định danh cá nhân. Thời gian giải quyết đăng ký khai sinh trong 24 giờ kể từ khi Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Sau khi có kết quả đăng ký khai sinh, Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp tự động chuyển bản điện tử Giấy khai sinh đến Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp, sau đó Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp đồng bộ với Cổng Dịch vụ công quốc gia để hoàn thiện và chuyển hồ sơ điện tử của các thủ tục hành chính tiếp theo trong quy trình liên thông và gửi kết quả cho người yêu cầu.
- Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ hoặc không đủ điều kiện giải quyết: Người thực hiện công tác hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện thao tác trên Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp để gửi thông tin trạng thái hồ sơ đến Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp, sau đó Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp thông báo cho người yêu cầu qua Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng VNeID hoặc gửi tin nhắn điện thoại tự động của Cổng Dịch vụ công quốc gia, trong đó nêu rõ lý do đối với các trường hợp hồ sơ bị từ chối giải quyết hoặc nêu rõ loại giấy tờ, nội dung cần bổ sung trong thời gian không qua 24 giờ kể từ thời điểm nhận được hồ sơ điện tử trên hệ thống.
Trường hợp cần bổ sung thành phần hồ sơ thì người yêu cầu có trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ trong 07 ngày làm việc, nếu quá thời hạn này không bổ sung thì người thực hiện công tác hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện thao tác trên Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp để dừng xử lý do không bổ sung theo quy định. Thông tin về việc dừng xử lý được gửi đến Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp để thông báo cho người yêu cầu qua Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng VNeID hoặc gửi tin nhắn điện thoại tự động của Cổng Dịch vụ công quốc gia.
- Việc liên thông điện tử giữa Cơ sở dữ liệu hộ tịch và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để cấp số định danh cá nhân, thực hiện trên các hệ thống, phần mềm nghiệp vụ của Bộ Tư pháp, Bộ Công an.
Trong quá trình thực hiện có vướng mắc phát sinh liên quan đến cấp số định danh cá nhân, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ kiểm tra, xử lý và trả kết quả xử lý trong thời gian không quá 01 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận các vướng mắc từ Bộ Tư pháp, cơ quan đăng ký hộ tịch.
- Sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký khai sinh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đồng thời xem xét, quyết định việc hỗ trợ tài chính khi sinh con và thực hiện chi trả cho phụ nữ sinh con theo quy định pháp luật dân số.
7. Ngày 24/8/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 126/2026/TT-BTC quy định chi tiết chi phí thực tế để in, sao, chụp và gửi thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 25 Luật Tiếp cận thông tin 2026. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/9/2026.
Theo đó, chi phí thực tế để in, sao, chụp và gửi thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 25 Luật Tiếp cận thông tin 2026 được quy định như sau:
- Chi phí in, sao, chụp thông tin thực hiện theo mức thu quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này.
- Chi phí gửi thông tin yêu cầu cung cấp: Mức thu chi phí thực hiện theo mức giá cước dịch vụ nhận, gửi hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính và dịch vụ chuyển trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích hoặc theo mức chi phí gửi chuyển bưu phẩm, chuyển phát nhanh theo quy định hiện hành.
- Trường hợp người yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều 23 Luật Tiếp cận thông tin 2026 thì không phải trả chi phí.
Về thu, nộp, lập dự toán, quyết toán, quản lý và sử dụng chi phí cung cấp thông tin được quy định như sau:
- Việc thu, nộp, lập dự toán, quyết toán, quản lý và sử dụng chi phí in, sao, chụp và gửi thông tin được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về đơn vị sự nghiệp công lập, pháp luật về tiếp cận thông tin và các quy định của pháp luật có liên quan.
- Tiền thu từ chi phí in, sao, chụp và gửi thông tin được hạch toán vào Chương của cơ quan nhà nước cung cấp thông tin, Tiểu mục 4949 “Các khoản thu khác (bao gồm các khoản thu nợ không được phản ánh ở các tiểu mục thu nợ)” thuộc Mục 4900 “Các khoản thu khác” theo quy định tại Thông tư 130/2025/TT-BTC .
Lưu ý: Người yêu cầu cung cấp thông tin đã gửi yêu cầu cung cấp thông tin đến cơ quan nhà nước trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành nhưng chưa được nhận kết quả thì tiếp tục áp dụng mức chi phí thực tế để in, sao, chụp và gửi thông tin theo quy định tại Thông tư 46/2018/TT-BTC.
8. Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/9/2026.
Theo Nghị định 326/2026/NĐ-CP, định danh địa điểm là hoạt động thu thập, tạo lập dữ liệu và cấp mã định danh cho một địa điểm nhằm phân biệt địa điểm này với địa điểm khác.
Trong đó, đối tượng được định danh địa điểm là các thửa đất, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, địa danh hoặc bất cứ cấu trúc vật lý và các đối tượng khác được quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định này.
Việc địa danh địa điểm phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
- Mỗi địa điểm chỉ có một mã định danh duy nhất, tuân thủ cấu trúc thống nhất trên toàn quốc, đảm bảo tính liên tục và ổn định, không trùng lặp trong toàn hệ thống.
- Đối với loại đối tượng có kết cấu theo chiều dài tiếp giáp dọc đường giao thông và có thể tiếp cận đối tượng từ bất cứ vị trí nào dọc đoạn đường giao thông đó thì cách gán định danh địa điểm cho đối tượng áp dụng như đối với đường giao thông, theo đó địa điểm của đối tượng sẽ gồm địa chỉ điểm đầu, địa chỉ điểm cuối, địa chỉ tại các nút giao, điểm giao cắt trên tuyến hoặc điểm giao cắt với địa giới hành chính cấp tỉnh.
- Việc định danh địa điểm, cấp mã định danh địa điểm được thực hiện dựa trên dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành, đảm bảo kế thừa, đồng bộ, thống nhất; không thay thế chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan theo quy định của pháp luật.
- Việc thực hiện định danh địa điểm phải đảm bảo tuân thủ quy định về quốc phòng, an ninh, bí mật nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
- Mã định danh địa điểm sau khi được tạo lập, gắn mã duy nhất cho một đối tượng cụ thể phải có tính ổn định lâu dài.
- Cơ quan nhà nước được giao quản lý chuyên ngành đối với đối tượng thuộc danh mục định danh địa điểm hoặc cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành chứa dữ liệu gốc về sự hình thành, tồn tại, biến động của đối tượng có trách nhiệm chủ trì rà soát, chuẩn hóa, thu thập dữ liệu, đồng bộ dữ liệu về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm để thực hiện cấp mã định danh địa điểm.
Đối với các đối tượng thuộc danh mục định danh địa điểm đã có đầy đủ thông tin tối thiểu theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 326/2026/NĐ-CP thì các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện đồng bộ về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm để đảm bảo thực hiện khi Nghị định này có hiệu lực thi hành.
Đối với các đối tượng thuộc danh mục định danh địa điểm nhưng chưa có đầy đủ các thông tin phục vụ định danh địa điểm theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 326/2026/NĐ-CP thì các bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì, phối hợp với Bộ Công an xây dựng lộ trình thực hiện thu thập, tạo lập, bổ sung và đồng bộ về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.