TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ XÃ Di Linh - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Một số chính sách pháp luật mới có hiệu lực từ tháng 4 năm 2026

    Từ ngày 01/4/2026, nhiều chính sách pháp luật quan trọng chính thức có hiệu lực thi hành, tác động trực tiếp đến các lĩnh vực khoa học công nghệ, quản lý kinh tế, giáo dục và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội
  • Sửa đổi các quy định liên quan đến lĩnh vực hộ tịch nhằm cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân

    Ngày 14/01/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp. Trong đó, có liên quan đến lĩnh vực hộ tịch (sửa đổi, bổ sung Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 87/2020/NĐ-CP, Nghị định số 104/2022/NĐ-CP, Nghị định số 07/2025/NĐ-CP) Nghị định số 18/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung 04 nội dung trọng tâm, quan trọng trong lĩnh vực hộ tịch nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, thực hiện việc sử dụng dữ liệu thay thế cho thành phần hồ sơ theo quy định tại Nghị quyết 66.7/2025/NĐ-CP ngày 15/11/2025 của Chính phủ quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu, đó là: - Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2 về xuất trình, nộp giấy tờ khi đăng ký hộ tịch theo hướng quy định rõ cơ chế giải quyết thủ tục dựa trên dữ liệu điện tử, hạn chế yêu cầu xuất trình giấy tờ bản chính. Đồng thời, quy định rõ phương thức xử lý khi không khai thác được thông tin hoặc thông tin không chính xác. Trường hợp giấy tờ tùy thân sử dụng là: Hộ chiếu, Thẻ Căn cước, Căn cước công dân, Giấy chứng nhận căn cước thì chỉ cần cung cấp thông tin về giấy tờ (số, ngày tháng năm cấp) hoặc số định danh cá nhân, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu thông tin thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc cơ sở dữ liệu khác có liên quan để đối chiếu, khai thác dữ liệu. Trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác thì cơ quan đăng ký hộ tịch yêu cầu người đi đăng ký hộ tịch xuất trình bản chính giấy tờ để chứng minh, đồng thời đề nghị người đi đăng ký hộ tịch cập nhật, điều chỉnh thông tin trong các cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật.". - Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 22 về thủ tục xác nhận tình trạng hôn nhân đã ly hôn hoặc có vợ/chồng chết và khoản 2 Điều 24 về việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ/đã có chồng nhưng đã ly hôn tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền hoặc vợ/chồng đã chết và đã đăng ký khai tử tại cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền thì người yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin về giấy tờ; cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu, khai thác thông tin của các giấy tờ này thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.". Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tất cả giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại. Trường hợp giấy tờ, tài liệu là giấy tờ hộ tịch hoặc giấy tờ cá nhân thuộc nhóm giấy tờ có thể được thay thế bằng dữ liệu (giấy tờ tùy thân; giấy tờ chứng minh về nơi cư trú; Thẻ bảo hiểm y tế) thì cung cấp các thông tin về giấy tờ, tài liệu đó theo hướng dẫn của cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu, khai thác thông tin, giấy tờ, tài liệu đó thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu khác có liên quan. - Không yêu cầu xác nhận của Thủ trưởng cơ quan khi đăng ký lại khai sinh với công chức, viên chức, lực lượng vũ trang nếu đã có thông tin trên hệ thống cơ sở dữ liệu Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 26 về việc đăng ký lại khai sinh với đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang theo hướng bỏ yêu cầu nộp văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị nếu cơ quan chức năng khai thác được những thông tin này thông qua kết nối với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu về cán bộ, công chức, viên chức - Sửa đổi quy trình xác minh đăng ký lại khai sinh/kết hôn theo hướng tra cứu dữ liệu hộ tịch điện tử Sửa đổi, bổ sung về quy trình xác minh hồ sơ đối với đề nghị đăng ký lại khai sinh (khoản 2 Điều 26) và đăng ký lại kết hôn (khoản 2 Điều 27) khi thực hiện tại UBND cấp xã không phải nơi đăng ký trước đây theo hướng cán bộ tư pháp kiểm tra thông tin về việc đăng ký khai sinh/kết hôn trước đây trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử thông qua nghiệp vụ cấp bản sao; dùng kết quả tra cứu này là căn cứ để xác định về điều kiện đăng ký lại. Thay vì phải cần xác nhận văn bản từ Ủy ban nhân dân nơi đăng ký khai sinh/ kết hôn trước đây.
  • Trình tự, thủ tục cưỡng chế quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định mới tại Nghị định số 296/2025/NĐ-CP của Chính phủ

    Ngày 16/11/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 296/2025/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật và bảo đảm kỷ cương, trật tự trong quản lý nhà nước. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2026 và thay thế Nghị định số 166/2013/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Nhằm bảo đảm việc thi hành nghiêm minh các quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Nghị định quy định chi tiết trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế đã dành Chương II để quy định rõ ràng, minh bạch về trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức liên quan. Dưới đây là những nội dung đáng chú ý: 1. Cưỡng chế bằng hình thức khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập: Biện pháp này áp dụng cho cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người làm việc hưởng lương tại cơ quan, đơn vị; người làm việc theo thời vụ có thu nhập; và người đang hưởng chế độ hưu trí nhưng không tự nguyện thi hành quyết định xử phạt. Việc xác minh thông tin về lương, thu nhập được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu. Cá nhân, cơ quan quản lý tiền lương phải cung cấp thông tin trung thực và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trên cơ sở thông tin đã được xác minh, trong 02 ngày làm việc, người có thẩm quyền phải ban hành quyết định cưỡng chế khấu trừ. Quyết định cưỡng chế ghi rõ mức tiền bị khấu trừ, tài khoản Kho bạc Nhà nước nhận tiền, thời gian thực hiện và trách nhiệm phối hợp của đơn vị sử dụng lao động. Tỷ lệ khấu trừ được quy định cụ thể: - Không quá 30% đối với tiền lương và lương hưu. - Không quá 50% đối với các khoản thu nhập khác, nhưng vẫn phải bảo đảm mức sống tối thiểu của người bị cưỡng chế và người phụ thuộc. Cơ quan, đơn vị quản lý tiền lương có trách nhiệm khấu trừ, chuyển tiền đúng thời hạn và thông báo cho cá nhân, người có thẩm quyền cưỡng chế. Mọi hành vi cố tình không cung cấp thông tin hoặc không chấp hành quyết định cưỡng chế đều bị xem là cản trở người thi hành công vụ và bị xử lý theo quy định pháp luật. 2. Cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản Biện pháp này áp dụng với cá nhân, tổ chức mở tài khoản tại các tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước nhưng không tự giác thi hành quyết định xử phạt hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Cá nhân, tổ chức có trách nhiệm cung cấp thông tin về tài khoản trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được yêu cầu. Trường hợp không cung cấp, cơ quan có thẩm quyền sẽ trực tiếp gửi văn bản đến ngân hàng, Kho bạc Nhà nước đề nghị cung cấp thông tin. Sau khi xác định được thông tin tài khoản, trong 05 ngày làm việc, cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản hoặc phong tỏa tài khoản. Tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước phải: - Phong tỏa tài khoản trong 01 ngày làm việc kể từ khi nhận quyết định cưỡng chế. - Sau 05 ngày, thực hiện trích chuyển số tiền phải khấu trừ nộp vào ngân sách Nhà nước và thông báo lại bằng văn bản. Cơ quan tín dụng không hợp tác sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật. 3. Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá Kê biên tài sản được thực hiện khi các biện pháp khác không đảm bảo thi hành quyết định xử phạt. Nguyên tắc kê biên là chỉ kê biên tài sản tương ứng với số tiền phải thi hành, bao gồm cả chi phí tổ chức cưỡng chế. Nghị định quy định danh mục tài sản không được kê biên, như: nhà ở duy nhất đủ tiêu chuẩn theo pháp luật về cư trú, thuốc chữa bệnh, đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, di vật, huân chương, bằng khen, tài sản của cơ sở y tế, trường học không dùng để kinh doanh, tài sản đang được thế chấp hợp pháp… Việc xác minh tài sản, lập biên bản, tổ chức kê biên chỉ được thực hiện ban ngày, từ 08h đến 17h, không tiến hành vào ngày nghỉ, lễ, Tết; bảo đảm khách quan, đúng quy trình. Nghị định 296/2025/NĐ-CP đã quy định đầy đủ, chặt chẽ các trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm mọi quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thực thi nghiêm túc, công bằng và minh bạch. Mọi cá nhân, tổ chức cần nắm rõ quy định để thực hiện đúng trách nhiệm pháp lý, đồng thời phối hợp với cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu.
  • Một số điểm mới của Quyết Định Số 27/2025/QĐ-TTg và thông tư số 15/2025/TT-BTP ngày 11/9/2025

    Điểm mới trong Quyết định số 27/2025/QĐ-TTg ngày 04/8/2025 và Thông tư số 15/2025/TT-BTP ngày 11/9/2025 hướng dẫn thi hành Quyết định số 27/2025/QĐ-TTg quy định về xã, phường, đặc khu đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Ngày 04/8/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 27/2025/QĐ-TTg quy định về xã, phường, đặc khu đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Ngày 11/9/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 15/2025/TT-BTP hướng dẫn thi hành Quyết định số 27/2025/QĐ-TTg ngày 04/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định về xã, phường, đặc khu đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (Quyết định số 27/2025/QĐ-TTg và Thông tư số 15/2025/TT-BTP).
  • Một số điểm mới sửa đổi, bổ sung của Luật Quốc tịch Việt Nam

    1. Người mang 2 quốc tịch có thể làm công chức Khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quốc tịch Việt Nam 2025 bổ sung thêm các quy định về quốc tịch của công chức, viên chức và người giữ chức vụ trong Đảng như sau: - Người ứng cử, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, chỉ định giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương, địa phương; người làm việc trong tổ chức cơ yếu; người tham gia lực lượng vũ trang... phải là người chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam và phải thường trú tại Việt Nam. - Công chức, viên chức không thuộc trường hợp trên phải là người chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam và phải thường trú tại Việt Nam. Chính phủ quy định chi tiết khoản này. Như vậy, nếu có lợi cho Nhà nước và không làm phương hại đến lợi ích quốc gia, người mang 02 quốc tịch Việt Nam và nước ngoài thường trú tại Việt Nam cũng có thể được làm công chức, viên chức. 2. Căn cước điện tử là giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quốc tịch Việt Nam 2025 đã bổ sung thẻ Căn cước và Căn cước điện tử là các giấy tờ chứng mình quốc tịch Việt Nam bên cạnh các loại giấy tờ giấy như Giấy khai sinh, Hộ chiếu, Quyết định cho nhập tịch, Quyết định cho trở lại quốc tịch, Quyết định cho nhận con nuôi… quy định tại Điều 11 Luật Quốc tịch 2008. 3. Điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam Điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam quy định tại Điều 19 Luật Quốc tịch 2008 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quốc tịch Việt Nam 2025 như sau: Công dân nước ngoài và người không quốc tịch có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện sau đây: 1 - Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp là người chưa thành niên xin nhập quốc tịch Việt Nam theo cha hoặc mẹ, người chưa thành niên có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam; Nội dung cho phép người chưa thành niên nhập tịch theo cha/mẹ là người Việt Nam là quy định mới. 2 - Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng văn hóa, truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam; 3 - Biết tiếng Việt đủ để hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam; 4 - Đang thường trú ở Việt Nam (nội dung mới); 5 - Thời gian thường trú ở Việt Nam từ 05 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam; 6 - Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam. Luật Quốc tịch sửa đổi nới lỏng điều kiện nhập quốc tịch đối với một số trường hợp, theo đó người nhập tịch có thể không biết tiếng Việt, không thường trú trên 05 năm tại Việt Nam... Cụ thể: - Người xin nhập quốc tịch Việt Nam có vợ hoặc chồng hoặc có con đẻ là công dân Việt Nam thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải đáp ứng các điều kiện tại Khoản 3, 5, 6. - Người xin nhập quốc tịch Việt Nam thuộc một trong những trường hợp sau đây thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải đáp ứng các điều kiện tại Khoản 3, 4, 5, 6: Có cha đẻ hoặc mẹ đẻ hoặc ông nội và bà nội hoặc ông ngoại và bà ngoại là công dân Việt Nam; Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Là người chưa thành niên xin nhập quốc tịch Việt Nam theo cha hoặc mẹ. 4. Người 2 quốc tịch có thể ghép tên Việt Nam và nước ngoài Đây là quy định hoàn toàn mới theo khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quốc tịch Việt Nam 2025, theo đó người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải có tên bằng tiếng Việt hoặc bằng tiếng dân tộc khác của Việt Nam. Trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài thì có thể lựa chọn tên ghép giữa tên Việt Nam và tên nước ngoài. Tên do người xin nhập quốc tịch Việt Nam lựa chọn và được ghi rõ trong Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam. 5. Bổ sung trường hợp được giữ quốc tịch nước ngoài khi nhập tịch Theo khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quốc tịch Việt Nam 2025, người xin nhập quốc tịch Việt Nam thuộc các trường hợp sau đây được giữ quốc tịch nước ngoài nếu đáp ứng các điều kiện sau đây và được Chủ tịch nước cho phép. Trường hợp được giữ quốc tịch nước ngoài: Có vợ hoặc chồng hoặc có con đẻ là công dân Việt Có cha đẻ hoặc mẹ đẻ hoặc ông nội và bà nội hoặc ông ngoại và bà ngoại là công dân Việt Nam (bổ sung trường hợp có ông/bà là công dân Việt Nam); Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam; Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Là người chưa thành niên xin nhập quốc tịch Việt Nam theo cha hoặc mẹ. Điều kiện giữ quốc tịch nước ngoài: Việc giữ quốc tịch nước ngoài phù hợp với pháp luật của nước đó; Không sử dụng quốc tịch nước ngoài để gây phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, xâm hại an ninh, lợi ích quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ quy định chi tiết Điều này. 6. Có thể nộp hồ sơ nhập tịch ở Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài Trước đây, người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải nộp hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi cư trú tại Việt Nam theo khoản 1 Điều 21 Luật Quốc tịch 2008 (trừ trường hợp xin trở lại quốc tịch). Theo quy định mới tại khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quốc tịch 2025 người xin nhập quốc tịch Việt Nam có thể nộp hồ sơ cho Sở Tư pháp nếu cư trú ở trong nước, cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại nếu cư trú ở nước ngoài. 7. Rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ nhập quốc tịch tại Sở Tư pháp Việc giải quyết hồ sơ nhập tịch quy định tại khoản 2 Điều 21 Luật Quốc tịch 2008 được sửa đổi bởi khoản khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quốc tịch Việt Nam 2025 theo hướng rút ngắn thời gian như sau: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp gửi văn bản đề nghị cơ quan Công an cấp tỉnh xác minh về nhân thân của người xin nhập quốc tịch Việt Nam. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, cơ quan Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xác minh và gửi kết quả đến Sở Tư pháp. Trong thời gian này, Sở Tư pháp phải tiến hành thẩm tra giấy tờ trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam. Trong thời hạn 5 ngày làm việc (trước đây là 10 ngày), kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, Sở Tư pháp có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trong thời hạn 5 ngày làm việc (trước đây là 10 ngày), kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp. Ngoài ra, Luật sửa đổi còn bổ sung quy định: Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thẩm tra giấy tờ trong hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam và chuyển hồ sơ kèm theo ý kiến đề xuất việc xin nhập quốc tịch Việt Nam về Bộ Tư pháp; đồng thời gửi thông tin về Bộ Ngoại giao để phối hợp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quốc tịch. Bộ Công an có trách nhiệm xác minh về nhân thân của người xin nhập quốc tịch Việt Nam theo đề nghị của Bộ Tư pháp. 8. Mọi trường hợp xin trở lại quốc tịch Việt Nam đều được xem xét giải quyết Trước đây, người đã mất quốc tịch Việt Nam phải đáp ứng một số điều kiện nhất định mới được xin trở lại quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên theo khoản 8 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quốc tịch Việt Nam 2025, người đã mất quốc tịch Việt Nam khi có đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì đều được xem xét giải quyết trở lại quốc tịch Việt Nam Theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quốc tịch Việt Nam 2025, người xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải lấy lại tên gọi Việt Nam trước đây. Trường hợp người xin trở lại quốc tịch Việt Nam đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài thì có thể lựa chọn tên ghép giữa tên Việt Nam và tên nước ngoài. Tên gọi này phải được ghi rõ trong Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam.

Tổng số : 9 bài viết

1